Du lịch Kiên Giang: Kỳ vọng "cất cánh"

15:06:37 | 26/3/2019


Nằm trong vùng ĐBSCL vốn có tiềm năng du lịch tương đồng với các địa phương khác song du lịch Kiên Giang vẫn sở hữu riêng mình những thế mạnh đặc trưng, không trùng lắp với bất kỳ địa phương nào. Đây cũng chính là lợi thế giúp du lịch Kiên Giang ngày càng hấp dẫn du khách gần xa. Đặc biệt từ sau khi Tỉnh ủy ban hành 2 nghị quyết về phát triển du lịch, ngành "công nghiệp không khói" Kiên Giang đã có bước chuyển mình mạnh mẽ, kỳ vọng "cất cánh" trong thời gian tới. Để tìm hiểu thêm thông tin, phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn ông Trần Chí Dũng, Giám đốc Sở Du lịch Kiên Giang. Công Luận thực hiện.

Xin ông cho biết cụ thể hơn về những thế mạnh đặc trưng của du lịch Kiên Giang?


Mặc dù sở hữu thế mạnh tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hoá giống với nhiều tỉnh thành còn lại của vùng ĐBSCL song tiềm năng tài nguyên du lịch Kiên Giang vẫn có phần đặc trưng nổi trội, đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch biển đảo.



Kiên Giang có Khu Dự trữ sinh quyển thế giới rộng 1,1 triệu ha (lớn thứ hai cả nước). Nằm trong Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang có 2 Vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng và 1 Khu bảo tồn biển Phú Quốc chứa đựng sự đa dạng sinh học về chủng loài động thực vật, nguồn gen vô cùng phong phú và quý hiếm, nhiều loài nằm trong sách đỏ của Việt Nam và thế giới. Mặt khác đầm Đông Hồ ở TP.Hà Tiên nằm trong hệ thống đầm, phá của Việt Nam chứa đựng các giá trị tài nguyên quan trọng để phát triển các loại hình du lịch sinh thái cộng đồng; sự đa dạng sinh học của núi đá vôi Kiên Lương với nhiều loài đặc hữu quý hiếm, sự kiến tạo địa hình hang động Karst hệ thống núi đá vôi Hà Tiên - Kiên Lương luôn hấp dẫn du khách, trong khu vực chỉ xuất hiện tại Kiên Giang. Đặc biệt Kiên Giang với hệ thống tài nguyên du lịch biển đảo được mệnh danh là "Hạ Long phương Nam" có nhiều đảo với những bãi biển đẹp, hoang sơ không thua kém các bãi tắm so với cả nước và các nước trên thế giới.

Kiên Giang có hệ thống tài nguyên nhân văn mang tính chất đặc trưng chung của khu vực như các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, nghệ thuật đàn ca tài tử… Mặt khác, còn có các nghề và làng nghề rất đặc trưng, nổi tiếng so với các tỉnh khác như nghề nuôi cá bè trên biển, nghề sản xuất nước mắm, nghề trồng tiêu, nghề sản xuất rượu sim, nghề đan cỏ bàng, hay nghề nuôi trồng và chế tác ngọc trai… đã có thương hiệu, rất thu hút du khách và các DN lữ hành quan tâm khai thác.



Trong những năm qua Kiên Giang, đặc biệt là Phú Quốc nhận được sự quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch từ Chính phủ, chính quyền địa phương cùng với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Kiên Giang hiện có 1 sân bay nội địa Rạch Giá, 1 sân bay quốc tế Phú Quốc đã và đang kết nối đường bay với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, 1 cảng biển hành khách quốc tế Phú Quốc hiện đại sắp được đưa vào khai thác. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở lưu trú khách sạn và resort với các thương hiệu uy tín trên cả nước và thế giới đã hiện diện tại Phú Quốc; cùng với hệ thống sản phẩm các khu vui chơi giải trí tầm cỡ như: Vinperal Land Phú Quốc, cáp treo Hòn Thơm - Phú Quốc vượt biển dài nhất thế giới, vườn thú bán hoang dã Safari Phú Quốc lớn nhất khu vực Đông Nam Á và hiện tại là nơi duy nhất có casino cho người Việt tham gia.

Năm 2013, Tỉnh ủy Kiên Giang (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU về đẩy mạnh phát triển du lịch đến năm 2020 (Nghị quyết 04-NQ/TU) và ngày 16/11/2017 tiếp tục ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU về phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 (Nghị quyết số 03-NQ/TU). Đến nay, việc triển khai thực hiện 2 nghị quyết này đã đạt được những kết quả đáng khích lệ nào?

Sau 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU, du lịch Kiên Giang có bước phát triển đáng kể; nhận thức của các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của ngành du lịch có sự chuyển biến tích cực. Đến năm 2017, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW, ngành du lịch và Ban cán sự Đảng, UBND tỉnh đã tham mưu Tỉnh ủy tổng kết thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TU, ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU.



Tiếp nối Nghị quyết 04-NQ-TU, Nghị quyết 03-NQ/TU ra đời đã đáp ứng nhu cầu bức xúc về phát triển du lịch của từng địa bàn cụ thể, là cơ sở quan trọng cho việc định hướng phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương trong những năm qua. Từ định hướng cơ bản này, ngành du lịch Kiên Giang đã xây dựng các chiến lược về thị trường, sản phẩm du lịch, quảng bá và xúc tiến để thu hút du khách; tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch, xây dựng các khu tuyến điểm du lịch, hoàn thiện cơ sở vật chất, kỹ thuật; tiến hành đồng bộ các giải pháp kinh doanh, quản lý Nhà nước, bảo vệ tài nguyên và môi trường... Nỗ lực này cộng với quyết tâm của CBCNV ngành du lịch, sự quan tâm đặc biệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đối với phát triển du lịch và sự phối hợp, giúp đỡ của các ngành, các cấp đã đưa du lịch Kiên Giang phát triển vượt bậc cả về quy mô, chất lượng lẫn hiệu quả kinh doanh.

Đến nay hệ thống cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch của tỉnh phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, tập trung ở các vùng trọng điểm du lịch như Phú Quốc, Rạch Giá, Hà Tiên; đáp ứng khá tốt nhu cầu lưu trú, tham quan của du khách trong nước và quốc tế. Nổi trội nhất là số cơ sở lưu trú chất lượng cao tầm cỡ quốc tế xuất hiện ngày càng nhiều tại Phú Quốc với sự quản lý, vận hành của các tập đoàn quản lý khách sạn hàng đầu thế giới như: Accor, Marriott, Melia, Inter Continental, Best Western... Các DN lữ hành gia tăng rất mạnh, từ 60 DN (tháng 6/2013) nay đã lên đến 97 DN, trong đó DN lữ hành quốc tế từ 3 DN nay đã tăng lên 12 DN, đáp ứng khá tốt nhu cầu du khách quốc tế đến Kiên Giang cũng như tổ chức đưa khách đi du lịch nước ngoài. Đặc biệt, thời gian gần đây đã triển khai được nhiều dự án lớn như: Vinpearl Phú Quốc, Vườn thú Safari Phú Quốc, Khu du lịch (KDL) Sinh thái và Nghỉ dưỡng cao cấp Bãi Khem, Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển Hòn Thơm Phú Quốc, Casino Phú Quốc… Khu bảo tồn biển và Vườn quốc gia Phú Quốc cũng đã liên kết với các DN để triển khai các dự án du lịch sinh thái kết hợp công tác quản lý bảo vệ rừng. Ngoài ra, một số mô hình sản xuất nông nghiệp, thủy sản tại các địa bàn du lịch trọng điểm cũng đã gắn với phục vụ phát triển du lịch.

Bên cạnh đó, để tạo điều kiện phát triển du lịch biển đảo, thu hút khách quốc tế, tỉnh đã công nhận 3 KDL cấp tỉnh gồm: KDL Quần đảo Hải Tặc (Hà Tiên), KDL Quần đảo Nam Du (Kiên Hải), KDL Lại Sơn (Kiên Hải). Từ sau công nhận đến nay, lượt khách quốc tế đến Kiên Giang, nhất là các nơi này có sự gia tăng đáng kể. Song song đó du lịch Kiên Giang không ngừng tăng cường mở rộng liên kết hợp tác với du lịch quốc tế và các vùng trong nước. Thông qua các chương trình liên kết, hợp tác để xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Kiên Giang đến du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt năm 2016, ngành du lịch đã tham mưu UBND tỉnh tổ chức thành công Năm Du lịch quốc gia 2016 - Phú Quốc - ĐBSCL, góp phần tạo nên thương hiệu và thu hút du khách đến tham quan du lịch.

Kỳ vọng "cất cánh" của du lịch Kiên Giang từ Nghị quyết số 03-NQ/TU của Tỉnh ủy, thưa ông?

Mục tiêu của Nghị quyết số 03-NQ/NQ đã nêu rõ những kỳ vọng về phát triển du lịch Kiên Giang trong thời gian tới; trong đó chú trọng tạo bước đột phá phát triển toàn diện du lịch của tỉnh cả về phạm vi, quy mô lẫn chất lượng, đảm bảo tính bền vững; phấn đấu đến năm 2030, du lịch thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh, có tỷ trọng, có tốc độ, chất lượng tăng trưởng cao, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu và có sức cạnh tranh; mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, thân thiện với môi trường, bảo đảm an ninh quốc phòng, đóng góp xứng đáng vào thành tựu chung của sự nghiệp xây dựng, phát triển tỉnh Kiên Giang.

Mục tiêu đến năm 2020 du lịch Kiên Giang thu hút 650-700 ngàn lượt khách quốc tế và 8,4 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế là 20%/năm, nội địa là 12%/năm; đóng góp từ 9,75% GRDP của tỉnh, đạt 808 triệu USD, tương đương 19.400 tỷ Việt Nam đồng; tăng trưởng doanh thu 31,53%/năm. Đến năm 2030 thu hút 1,667 triệu lượt khách quốc tế và 22 triệu lượt khách nội địa; tăng trưởng khách quốc tế là 10%/năm, nội địa là 10%/năm; đóng góp trên 17,5% GRDP của tỉnh, đạt 4.900 triệu USD, tương đương 105.000 tỷ Việt Nam đồng; tăng trưởng doanh thu 18,4%/năm.

Trân trọng cảm ơn ông!