Tăng trưởng kinh tế Việt Nam phục hồi ở mức 6,7% năm 2021

8:55:12 AM | 29/4/2021

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam được dự báo sẽ phục hồi ở mức 6,7% trong năm nay bất chấp sự bùng phát trở lại của đại dịch COVID-19 ở các quốc gia lân cận, và tăng lên 7,0% trong năm 2022.

Đây là nhận định của ông Andrew Jeffries , Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam tại buổi công bố Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2021 tại Hà Nội.

Công nghiệp chế biến chế tạo là động lực tăng trưởng

Theo ông Andrew Jeffries, tiêu dùng nội địa trì trệ và sức cầu bên ngoài yếu do đại dịch COVID-19 làm giảm tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong năm ngoái, nhưng đà tăng trưởng vẫn tiếp tục mạnh trong năm nay và năm sau, nhờ thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát sự lây lan của virus. Tuy vậy, năm nay và năm sau vẫn còn nhiều rủi ro đáng kể, trong đó có sự trở lại của các biến thể virus corona mới và sự chậm trễ trong chương trình vắc-xin của chính phủ.

Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á (ADO) 2021 nhận định, các động lực tăng trưởng sẽ là công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến chế tạo định hướng xuất khẩu, đầu tư gia tăng và thương mại mở rộng. Công nghiệp dự báo sẽ tăng 9,5% trong năm 2021, đóng góp 3,5 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Khu vực này có bước khởi động mạnh mẽ ngay trong quý I/2021, tăng 6,3% so với ba tháng đầu năm 2020. Chỉ số quản trị mua hàng tăng 53,6 trong tháng 3, mức cao nhất tính từ tháng 1/2019. Các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước mới được dự báo sẽ thành lập nhờ có vắc-xin COVID-19 tạo thuận lợi cho việc đi lại trong nước cũng như cho các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Sự phục hồi của các đối tác thương mại lớn sẽ làm tăng nhu cầu sản xuất hàng xuất khẩu. Xây dựng được dự báo sẽ tăng nhanh khi chính phủ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án hạ tầng lớn trong năm 2021 và lãi suất thấp kích thích hoạt động xây dựng bất động sản.

Theo ông Nguyễn Minh Cường, Chuyên gia kinh tế trưởng của ADB tại VN, khu vực dịch vụ được dự báo sẽ phục hồi tăng trưởng ở mức 6,0% trong năm 2021, đóng góp 2,3 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP. Tăng trưởng khu vực dịch vụ đến từ tiến trình chuyển đổi số, tăng chi tiêu vào vắc-xin COVID-19, niềm tin kinh doanh cải thiện và mặt bằng lãi suất thấp. Khu vực nông nghiệp cũng được dự báo sẽ hoạt động mạnh hơn trong năm nay nhờ các cải cách cơ cấu được duy trì, cải thiện tiếp cận thị trường đối với hàng nông sản xuất khẩu theo các hiệp định thương mại tự do khu vực, và giá lương thực toàn cầu cao hơn do nhu cầu tăng.

Bên cạnh đó, đầu tư gia tăng sẽ là một động lực tăng trưởng then chốt trong năm nay và năm sau. Thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát COVID-19 và Luật Đầu tư được ban hành tháng 1/2021 giảm bớt các rào cản quy định về kinh doanh được kỳ vọng sẽ thúc đẩy việc thu hút đầu tư nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký tăng 17,8% trong quý I/2021 so với quý I năm trước. Tăng trưởng tổng vốn đầu tư toàn xã hội sẽ tiếp tục được đẩy mạnh nhờ đầu tư tư nhân, vốn đã tăng đáng kể, với yếu tố xúc tác là mặt bằng lãi suất thấp và chi tiêu công tăng.

Ông Cường cũng nhận định, thương mại sẽ tiếp tục duy trì mạnh mẽ trong năm 2021, được hỗ trợ bởi sự phục hồi kinh tế mạnh mẽ ở Trung Quốc và Mỹ, hai đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, và nhờ Việt Nam tham gia vào 15 hiệp định thương mại tự do lớn với hầu hết các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Việt Nam đạt mức xuất siêu hàng hoá 2 tỉ USD trong quý I/2021, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 34,35% và sang Mỹ tăng 32,8%. Xuất khẩu hàng hoá được dự báo sẽ tăng 8,0% trong năm nay và năm tới. Việc Việt Nam tiếp tục lệ thuộc kinh tế vào đầu tư trực tiếp nước ngoài – với sự gia tăng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá vốn và đầu vào sản xuất cho ngành công nghiệp chế biến chế tạo – cùng với giá dầu tăng sẽ làm cho nhập khẩu tăng 5,0%, thu hẹp thặng dư tài khoản vãng lai xuống mức tương đương 2,0% GDP trong năm nay và 2,5% trong năm 2022.

Kiềm chế tác động của COVID-19 đối với thu nhập và nghèo đói

Tính toán của ADB vào tháng 12/2020 cho thấy tác động đáng kể của đại dịch COVID-19 đối với thu nhập. Đặc biệt, tác động của đại dịch sẽ làm giảm thu nhập trên đầu người của hộ gia đình trung bình 9,8%, và nhóm có thu nhập thấp nhất sẽ bị giảm đến 10,2% thu nhập, trong khi tỉ lệ hộ nghèo trong ngũ phân vị có thu nhập nghèo nhất sẽ tăng 40%. Do các hộ gia đình ở nông thôn cung cấp lao động di cư nhiều hơn, nên họ sẽ bị tổn thất thu nhập từ nguồn người lao động di cư gửi tiền về nhà nhiều hơn so với các hộ gia đình ở đô thị, và các hộ gia đình có phụ nữ làm chủ hộ sẽ bị tổn thất kiều hối cả từ nước ngoài lẫn trong nước nhiều hơn so với hộ gia đình do nam giới làm chủ hộ.

Để ứng phó với tác động của đại dịch COVID-19 đối với thu nhập và nghèo đói, vào ngày 9/4/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 về Chương trình an sinh xã hội với trị giá tương đương 0,25 GDP (xấp xỉ 0,5 tỉ USD) để trợ cấp cho các cá nhân, hộ gia đình và doanh nghiệp. Nghị quyết 42 được kỳ vọng sẽ giúp làm giảm tỉ lệ nghèo năm 2020 1,3 điểm phần trăm, xuống còn 4,9%. Chương trình dự kiến sẽ trợ giúp cho các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, thường thuộc ngũ phân vị có thu nhập nghèo nhất, và các hộ gia đình ở nông thôn, vì thu nhập của họ thường bị ảnh hưởng nặng nề nhất do đại dịch. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân theo Nghị quyết 42 khá chậm. Tính đến cuối năm 2020 mới chỉ có một nửa nguồn tiền chính sách được giải ngân do thiếu các tiêu chí lựa chọn rõ ràng và một hệ thống giải ngân chuyên trách. Mặc dù Nghị quyết 42 có thể có hiệu quả giảm nghèo tốt, nhưng chỉ một chương trình này chưa đủ để đưa những nhóm dễ bị tổn thương nhất thoát nghèo do hạn chế về quy mô số tiền và khoảng cách nghèo còn lớn.

Bởi vậy, theo ADB, chương trình trợ giúp cho người dân cần phải được tăng cường để giúp các nhóm nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất không tiếp tục bị mất thu nhập. Do tác động của COVID-19 đối với các đối tượng khác nhau là rất khác nhau, nên cần ưu tiên hỗ trợ cho những đối tượng làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất. Đồng thời, cần xây dựng một hệ thống theo dõi và đánh giá toàn diện dành cho các đối tượng thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội hiện tại và tiềm năng, trong đó có cả đối tượng thuộc khu vực phi chính thức sẽ rất hữu ích để tiếp cận được những người dân cần được hỗ trợ. Kế sách lâu dài, bền vững hơn phải là giúp cho người nghèo và người dễ bị tổn thương đa dạng hoá được sinh kế của họ, ví dụ thông qua đào tạo nghề ngắn hạn và cải thiện tiếp cận với tín dụng vi mô để hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới.

Anh Mai (Vietnam Business Forum)