Việt Nam hấp dẫn nhà đầu tư nội khối ASEAN

09:49:56 | 9/7/2021

Việt Nam nằm trong top đầu các thị trường để mở rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ASEAN đang tìm kiếm cơ hội tăng trưởng nội khối.

Ngân hàng Standard Chartered vừa phát hành Báo cáo Kinh doanh xuyên biên giới, ấn bản thứ 3 cho năm 2021. Trong đó đánh giá Việt Nam nằm trong top đầu các thị trường để mở rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ASEAN đang tìm kiếm cơ hội tăng trưởng nội khối.


Nền tảng cơ bản mạnh mẽ - tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thị trường nội địa ngày càng mở rộng là những yếu tố khiến Việt Nam hấp dẫn nhà đầu tư nội khối.

Theo khảo sát của Ngân hàng Standard Chartered, các doanh nghiệp ASEAN rất lạc quan về triển vọng tăng trưởng tại khu vực trong 12 tháng tới.

Bà Michele Wee, Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam, chia sẻ: “Việt Nam tiếp tục mang đến những cơ hội kinh doanh và đầu tư hấp dẫn nhờ nền tảng cơ bản mạnh mẽ - tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, thị trường nội địa ngày càng mở rộng, chi phí lao động thấp, lực lượng lao động dồi dào, tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do và có vị trí địa lý chiến lược.”

Kết quả của cuộc khảo sát trong báo cáo “Kinh doanh không biên giới: hành lang thương mại nội khối ASEAN” của Standard Chartered cũng đã xem xét các cơ hội có thể thúc đẩy quá trình tăng trưởng xuyên biên giới ở trong khu vực.

Theo đó, khảo sát cho thấy phần lớn các doanh nghiệp ASEAN hiện đang tập trung vào các cơ hội kinh doanh trong khu vực kỳ vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ trong 12 tháng tới. Có tới 99% các doanh nghiệp được hỏi kỳ vọng sẽ ghi nhận sự tăng trưởng trong hoạt động sản xuất và 96% kỳ vọng tăng trưởng về doanh thu. 

Theo ý kiến của lãnh đạo cấp cao các doanh nghiệp tham gia cuộc khảo sát, ba trong số những động lực quan trọng để thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng hoạt động kinh doanh trong khu vực gồm có: khả năng tiếp cận thị trường tiêu dùng ngày càng mở rộng tại ASEAN (69%), khả năng tiếp cận với thị trường quốc tế thông qua mạng lưới các Hiệp định thương mại tự do (59%) và nguồn lao động dồi dào có tay nghề cao (49%).

Bên cạnh đó, với việc Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) được kỳ vọng có thể giúp thu hút thêm dòng vốn đầu tư vào ASEAN, tất cả các doanh nghiệp tham gia khảo sát đều có kế hoạch mở rộng đầu tư trong vòng 3-5 năm tới.

Về khía cạnh các thị trường mục tiêu trong ASEAN, 80% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết họ đang tập vào việc mở rộng hoạt động tại Singapore để nắm bắt các cơ hội bán hàng và sản xuất, theo sau là Thái Lan (60%) và Việt Nam (59%). Trong bối cảnh các doanh nghiệp tìm kiếm các cơ hội đầu tư trong khu vực. Singapore được xem là thị trường hấp dẫn cho các doanh nghiệp để đặt trụ sở hoặc p văn phòng bán hàng và marketing ở quy mô khu vực (79%) và các trung tâm R&D hay trung tâm sáng tạo ở tầm khu vực (73%).

Các doanh nghiệp tham gia khảo sát cũng chỉ ra nhiều rủi ro và thách thức trong khu vực. 3 rủi ro ro lớn nhất là tình hình dịch COVID-19 hoặc các rủi ro khác liên quan đến sức khỏe (75%), bất ổn địa chính trị và xung đột thương mại (60%), nền kinh tế hồi phục chậm chạp và nhu cầu tiêu dung suy giảm (49%)(3).

Những thách lớn nhất trong 6-12 tháng tới gồm: thay đổi mô hình kinh doanh để thích nghi với các điều kiện và thực tiễn của từng lĩnh vực (67%), xây dựng mối quan hệ với các nhà cung cấp và thích nghi với các yêu cầu về kho vận của chuỗi cung ứng (66%), cũng như am hiểu quy định của các quốc gia trong khu vực cũng như các phương pháp và cơ sở hạ tầng thanh toán (53%). 

Để thúc đẩy quá trình tăng trưởng cân bằng và ổn định trong ASEAN và giảm thiểu những rủi ro cũng như thách thức này, lãnh đạo các doanh nghiệp tham gia khảo sát chỉ ra những khía cạnh quan trọng cần được chú ý bao gồm: thiết lập quan hệ hợp tác/ liên doanh để tăng cường sự hiện diện (53%), thúc đẩy các sáng kiến phát triển bền vững và ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị) (53%) và thực hiện các chương trình chuyển đổi số (52%). Để hỗ trợ quá trình tăng trưởng, những doanh nghiệp này cho biết họ đang tìm kiếm các đối tác ngân hàng với năng lực mạnh mẽ về quản lý dòng tiền (52%), các dịch vụ tăng vốn và cấp vốn cho doanh nghiệp (52%), và các dịch vụ tài trợ thương mại (47%).

Nguồn: DDDN