15:14:44 | 10/6/2011
Mặc dù là nhà cung ứng lớn số 1, 2 và 3 đối với một số mặt hàng nông sản nhưng chủ yếu Việt Nam vẫn chỉ là nhà xuất khẩu hàng nông sản thô mà chưa tạo ra được giá trị gia tăng trên sản phẩm của mình. Trong một môi trường toàn cầu ngày càng bất lợi cho sản xuất nông nghiệp thì việc thúc đẩy để ngày càng tạo thêm nhiều giá trị gia tăng trên hàng nông sản là một hướng đi đúng đắn và cần thiết.

Đó là lý do để Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án “Nâng cao giá trị gia tăng trong một số ngành hàng nông sản chủ lực”.
Chất lượng nông sản và lợi nhuận đều thấp
Sau nhiều năm duy trì được tốc độ tăng trưởng nông nghiệp từ 3,5 – trên 4% đến nay Việt Nam đã hìnhthành được một số vùng nông sản hàng hoá như: lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long, chè ở Thái Nguyên và một số tỉnh miền Bắc, cao su ở Đông Nam bộ… Tuy nhiên, diện tích đất nông nghiệp và năng suất, sản lượng một số loại nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được đánh giá đã đạt tới “ngưỡng”. Thêm vào đó là những tác động trái chiều đến môi trường sống do việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp đã thúc đẩy các nhà hoạch định chính sách phải tìm lối thoát mới.
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới; nông sản hàng hoá Việt Nam cũng đồng thời đối mặt với những thách thức gắt gao hơn về chất lượng; chỉ tiêu an toàn thực phẩm và các thách thức đem lại từ chính sách cạnh tranh, bảo hộ, chống bán phá giá trên thị trường quốc tế.
Thực tế là hàng nông sản Việt Nam mới chỉ chiếm ưu thế trên thị trường về mặt số lượng mà chưa thực sự thuyết phục được khách hàng bằng chất lượng. Điểm qua một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực đều có vấn đề về chất lượng, Chẳng hạn mặt hàng lúa gạo: hiện mới chỉ có rất ít doanh nghiệp Việt Nam thành công trong việc bắt tay với nông dân để phát triển vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn Global GAP. Dù Chính Phủ đã ban hành quyết định Quyết định 80/QĐ-TTg được 8 năm nhưng phần lớn các doanh nghiệp không đi được đến cùng trong quan hệ đầu tư và bao tiêu sản phẩm cho nông dân. Hiện tại chỉ có công ty Gentraco (TP Cần Thơ) đã giữ được cam kết tiêu thụ 2.106 ha lúa cho nông dân. Trong 4 năm tới (2011-2014), công ty này sẽ đầu tư mở rộng qui mô liên kết tiêu thụ từ 10.000 ha đến 15.000 ha lúa Jasmine và lúa hạt dài xuất khẩu tại TP Cần Thơ và các tỉnh Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang.
Cũng tương tự như vậy đối với mặt hàng cà phê xuất khẩu. Thông tin từ Cục Chế biến Nông lâm thủy sản và Nghề muối (Bộ NN&PTNT) cho biết: tỷ lệ áp dụng tiêu chuẩn sản xuất bền vững 4C mới đạt 5% diện tích cà phê xuất khẩu và cũng chỉ 5% sản lượng được cấp chứng chỉ UTZ. Một số sản phẩm thuỷ, hải sản khác thì trầy trật với việc chứng minh đã được sản xuất theo qui trình sạch hoặc không chứa hoá chất độc hại cho người tiêu dùng…
Vì vậy, dù sản lượng hàng nông sản xuất khẩu tăng hàng năm nhưng lợi nhuận của người nông dân vẫn thấp. Mở hướng đi để nâng cao giá trị gia tăng cho hàng hoá nông sản xuất khẩu chính là con đường làm tăng thêm lợi nhuận cho người sản xuất và đảm bảo phát triển bền vững.
Lựa chọn
Tuy nhiên nâng cao giá trị gia tăng cho hàng nông sản xuất khẩu bằng cách nào là câu hỏi chưa có lời giải đáp cụ thể. Trong cuộc họp bàn về đề án này được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức cách đây chưa lâu thì giải pháp do các chuyên gia đóng góp tương đối phong phú.
Chuyên gia Đỗ Anh Tuấn Giám đốc Trung tâm Tư vấn Chính sách nông nghiệp cho rằng cần phải có qui hoạch và đầu tư thoả đáng cho cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất hàng nông sản như: hệ thống kho chứa, cảng nước sâu… Ở phương diện là đại diện cơ quan quản lý về khoa học công nghệ của ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, TS Nguyễn Văn Bầm lại cho rằng cần áp dụng khoa học công nghệ vào chế biến các phụ phẩm nông nghiệp thành hàng hoá để có thêm giá trị gia tăng.
Định hướng cho các cơ quan lập đề án, Bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát nhấn mạnh: cần xác định rõ những ngành hàng chủ lực có thể nâng cao giá trị gia tăng. Sau đó phải tiếp tục xác định các khâu, công đoạn trong chuỗi sản xuất có thể làm tăng giá trị gia tăng để tập trung thúc đẩy. Ông còn nhấn mạnh rằng cần xác định các nhóm giải pháp trên 3 cấp độ: Sản phẩm, doanh nghiệp, quốc gia; rà soát lại toàn bộ chuỗi sản xuất, kinh doanh để tìm ra tiềm năng của từng khâu và chọn khâu trọng yếu nhất, có khả năng tác động đến việc tăng GTGT cao nhất.
Trong Đề án “Nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp", nhiều mục tiêu lớn được đặt ra; đó là: nâng cao GTGT các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu từ 50% hiện nay lên 70% đến năm 2020; tức là mỗi ngành hàng có mức tăng ít nhất 20% GTGT trong 10 năm. Với lúa gạo, sẽ áp dụng cơ giới hóa và các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa theo hướng bền vững, giảm chi phí sản xuất, chú trọng cả về năng suất và chất lượng; tuân thủ các quy trình công nghệ trong chuỗi sản phẩm từ thu mua, bảo quản… đến lưu thông; đưa tỷ lệ gạo thu hồi lên 68%; giảm tổn thất sau thu hoạch còn 5 - 6%; cải thiện chất lượng gạo XK: Tỷ trọng gạo 5 - 10% tấm chiếm 70% sản lượng. Đối với mặt hàng cà phê sẽ tập trung nâng cao GTGT cà phê ở các khâu sản xuất cà phê nguyên liệu; đổi mới công nghệ sơ chế; cơ cấu lại sản phẩm phù hợp, đặc biệt chú trọng sản xuất cà phê hòa tan đang rất có tiềm năng XK và qua đó, tăng tỷ lệ chế biến sâu. Tăng tỷ lệ cà phê được cấp chứng chỉ (4C, UTZ, RainForest) lên 40% vào 10 năm tới so với 15% hiện nay…
Trong định hướng phát triển, ngành nông nghiệp đặt mục tiêu đến năm 2015, xuất khẩu nông sản đạt 22 tỷ USD. Trong năm 2011 xuất khẩu nông sản đạt 19 tỷ USD; toàn ngành duy trì mức tăng trưởng cao (từ 3,5% - 3,8%/năm) để góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung , kiềm chế lạm phát, tạo chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm và sức cạnh tranh. Đề án nâng cao giá trị gia tăng trong nông nghiệp được thúc đẩy nhanh sẽ góp phần vào thực hiện các mục tiêu quan trọng đó.
Thanh Yên
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)