Công bố tình trạng “sức khỏe” của gần 700 doanh nghiệp

14:43:21 | 26/8/2011

Vừa qua, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Tạp chí Vietnam Business Forum và Công ty CP Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Việt Nam đã công bố “Báo cáo thường niên chỉ số tín nhiệm Việt Nam 2011”. Điểm nhấn của Báo cáo là kết quả đánh giá, xếp hạng tín nhiệm 596 doanh nghiệp Việt Nam theo 9 bậc (từ AAA đến C) trên cơ sở 54 chỉ tiêu tài chính đã được kiểm toán. Ngoài ra, 100 doanh nghiệp lớn trong đó có 20 ngân hàng tại Việt Nam cũng được xếp hạng.

Bên cạnh đó, Báo cáo đưa ra những đánh giá tổng quan về kinh tế Việt Nam năm 2010, phân tích năng lực cạnh tranh của các ngành, các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam; Đi sâu phân tích năng lực và vị thế của các doanh nghiệp xuất khẩu, năng lực tài chính và chỉ số tiến bộ công nghệ của 100 doanh nghiệp lớn trên thị trường; so sánh và phân tích thứ hạng của các doanh nghiệp trong hai năm 2009 và 2010, đồng thời Báo cáo còn đưa ra dự báo những nguy cơ tiềm ẩn dễ gây tổn thương đến nền kinh tế trong quá trình phát triển.

Về chỉ số công nghệ của các ngân hàng, theo kết qủa xếp hạng thì chỉ có 4/20 (20%) ngân hàng có chỉ số biến động công nghệ thấp, hai ngân hàng có mức tiến bộ công nghệ trung bình và 10 ngân hàng (50%) đạt mức A+. Điều này chứng tỏ trong 5 năm qua, các ngân hàng nói chúng đã có những ứng dụng khoa học kỹ thuật khá mạnh

Qua số liệu thống kê trên thị trường chứng khoán nêu ra trong báo cáo, trong số 596 doanh nghiệp niêm yết, có 1,2% doanh nghiệp bị xếp hạng C (hạng yếu kém nhất), trong đó 1,75% doanh nghiệp có thể bị phá sản vì thua lô và không có khả năng trả nợ. Xếp hạng AAA có 130 doanh nghiệp (chiếm 21,81%); 161 doanh nghiệp xếp hạng AA (chiếm 27,01%) và 165 DN xếp hạng A (chiếm 27,68%). Hơn 20% DN xếp hạng tín nhiệm B, những doanh nghiệp này bắt đầu có mức độ rủi ro từ trung bình đến cao, có hoạt động kinh doanh không hiệu quả, dễ bị cạnh tranh, thua lỗ.

Trong đó 7 doanh nghiệp được xếp hạng C là doanh nghiệp loại yếu kém là DDM , MHC , VMG, FBT, VKP, VSG và VTA. Các doanh nghiệp này được đánh giá là năng lực quản lý yếu kém, không có khả năng trả nợ, rủi ro rất cao. Với 6 doanh nghiệp xếp hạng B là doanh nghiệp hoạt động chưa hiệu quả, khả năng tự chủ tài chính thấp, có nguy cơ hoạt động thua lỗ, rủi ro tương đối cao.

Ông Nguyễn Trọng Hòa, Phó trưởng bộ môn Phân tích Chính sách Tài chính – Học viện Tài chính, Trưởng nhóm Phân tích Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp trên TTCK cho biết: “Trong báo cáo phát hành năm 2010, một số công ty được xếp hạng “B” như SD8 và MHC, ở mức đánh giá doanh nghiệp hoạt động chưa có hiệu quả, khả năng tự chủ tài chính thấp, có nguy cơ hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, rủi ro tương đối cao, thì sang năm 2011 đã bị Sở giao dịch CK đưa vào diện kiểm soát.

Trong tổng số các doanh nghiệp nâng mức tín nhiệm, có 255 doanh nghiệp tăng lên mức độ an toàn chiếm 95%, có 11 doanh nghiệp tăng từ nguy cơ vào tình trạng phá sản lên mức độ cản báo chiếm 4%, có 2 doanh nghiệp từ mức độ có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản cao lên mức có nguy cơ phá sản thấp hơn.

Ông Đoàn Duy Khương – Phó Chủ tịch VCCI: Xếp hạng tín nhiệm hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp

VCCI là một trong những đơn vị khởi xướng thực hiện xếp hạng tín nhiệm vào năm 2005, việc đánh giá doanh nghiệp thông qua chỉ số xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp sẽ làm minh bạch hóa thị trường kinh doanh tại Việt Nam. Đây cũng là một công cụ hữu hiệu, góp phần làm minh bạch các mối quan hệ kinh tế, nâng cao vị thế của đất nước, nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành, các doanh nghiệp, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam hiện nay.

Vừa qua, cuộc khủng hoảng tài chính kèm theo một số khó khăn của kinh tế vĩ mô đã khiến cho một số doanh nghiệp rơi vào tình trạng rủi ro, đặc biệt là rủi ro về tài chính. Những thông tin của bản báo cáo xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp lần này đóng vai trò giúp cho cộng đồng doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những khó khăn, rủi ro mà chính doanh nghiệp đó gặp phải. Hơn thế nữa, các doanh nghiệp được đánh giá ở thứ hạng cao có thể chiếm nhiều ưu thế về nâng cao năng lực cạnh tranh, ưu thế về huy động vốn đặc biệt là trong giai đoạn thị trường huy động vốn hiện đại như ngày nay.

Khi các tổ chức xếp hạng tín nhiệm đưa ra bản đánh giá thì thường nhận được nhiều phản ứng trái chiều chưa hẳn báo cáo đó không tốt. Tuy nhiên trong bối cảnh kinh tế phát triển ngày một tinh vi, thì các tổ chức tín nhiệm cần tiếp tục nâng cao phương pháp luận, thông tin đầu vào chính xác hơn nữa. Từ đó có những báo cáo chuẩn xác, kịp thời, góp phần hoàn thiện nền kinh tế thị trường.

Giáo sư Nguyễn Khắc Minh – Chủ tịch Hội đồng biên soạn Báo cáo Chỉ số tín nhiệm Việt Nam: Hạn chế rủi ro cho doanh nghiệp là mục tiêu hàng đầu

Trong nền kinh tế thị trường mang tính toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các quan hệ kinh tế cũng ngày càng phát triển, đi cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng rủi ro. Mặt khác, trong xu thế vận động của nền kinh tế thị trường, các chủ thể luôn có nhu cầu đánh giá một cách khách quan về tình hình hoạt động, triển vọng phát triển trong tương lai, vị thế tín dụng để ra các quyết định đầu tư, mua bán và sáp nhập, tài trợ tín dụng, hợp tác hay cung ứng hàng hóa. Vì vậy, xếp hạng tín nhiệm là một yêu cầu không thể thiếu và luôn hiện hữu trong nền kinh tế thị trường và cũng là nội dung quan trọng nhất trong quản lý rủi ro.

Thời gian qua, nhiều tổ chức, DN đã nhận thấy tầm quan trọng của XHTN khi mất nhiều chi phí để có được các thông tin liên quan tới đối tác, không ít DN đã quen với việc công khai tình hình “sức khỏe” của mình. Điều này cho thấy các DN VN đang ngày càng tiếp cận gần hơn với các phương pháp hoạt động theo tiêu chuẩn quốc tế.

Ông Đỗ Văn Thành – Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo KTXH Quốc gia: Cần chuẩn bị tốt về thu thập dữ liệu khi tiến hành xếp hạng tín nhiệm

Chất lượng của kết quả xếp hạng các doanh nghiệp lần này tốt hơn lần trước vì đã đưa ra các bộ chỉ số cần được xem xét khi đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp cũng như phương pháp đánh giá. Công tác tiếp cận tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả rất khoa học và tin cậy. Tôi nghĩ, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp có tính cả xác suất rủi ro của doanh nghiệp hay đưa ra dự báo những nguy cơ tiềm ẩn dễ gây tổn thương đến nền kinh tế trong quá trình phát triển là cần thiết trong hoàn cảnh hiện nay, Tuy nhiên, cần chuẩn bị tốt hơn về mặt dữ liệu cũng như cần xem xét phản ứng của thị trường, của các doanh nghiệp xem họ có đồng thuận với báo cáo này không để xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp dần dần sẽ hoàn thiện hơn và có ý nghĩa đối với 3 nhóm đối tượng: nhà quản lý, doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh – Viện trưởng Viện Chiến lược ngân hàng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Cần tăng thêm tính dự báo cho các kết quả đánh giá tín nhiệm

Đối với các ngân hàng thương mại, để đảm bảo cho việc hoạt động, hạn chế rủi ro, một số ngân hàng đã hợp tác với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm trên thế giới, cũng có một số ngân hàng đã tự xây dựng hệ thống đánh giá tín nhiệm của riêng mình để bảo đảm cho chất lượng hoạt động của mình.

Khi đánh giá chất lượng hoạt động và tính lành mạnh của thị trường tài chính, Ngân hàng Nhà nước cũng đã xây dựng Trung tâm Thông tin ứng dụng CIC, thời gian gần đây thì Trung tâm cũng đã phát triển tương đối mạnh với việc xây dựng chỉ số tín nhiệm của một số công ty trên thị trường chứng khoán. Xem xét đánh giá báo cáo Chỉ số tín nhiệm Việt Nam và so sánh với các kết quả của CIC thì chúng tôi thấy quy mô và tiêu chí đánh giá của trong Chỉ số tín nhiệm Việt Nam rộng hơn rất nhiều. Ví dụ, VCCI đã đưa ra những đánh giá tổng quan về kinh tế Việt Nam năm 2010, phân tích năng lực cạnh tranh của các ngành, các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam; Đi sâu phân tích năng lực và vị thế của các doanh nghiệp xuất khẩu, năng lực tài chính và chỉ số tiến bộ công nghệ của các doanh nghiệp lớn trên thị trường.

Theo tôi, thực trạng của nền kinh tế Việt Nam còn nhiều bất cập gây khó khăn cho việc đánh giá xếp hạng tín nhiệm nhưng Báo cáo này rất thiết thực cho những nhà đầu tư và các nhà hoạch định chính sách. Ví dụ như trong báo cáo có đề cập đến vấn đề quy mô ngân hàng cần có số vốn là bao nhiêu chẳng hạn.

Tôi nghĩ, các nhóm nghiên cứu xây dựng báo cáo chỉ số tín nhiệm nên đưa các phương pháp định tính song song với các phương pháp định lượng để tăng thêm tính dự báo cho các xếp hạng của mình.

Hương Ly