Nâng cao thị phần vận tải biển: Cần chiến lược lâu dài và đầu tư đúng hướng

06:53:52 | 20/4/2012

Với hơn 3260 km bờ biển, Việt Nam có tiềm năng rất lớn trong việc phát triển vận tải biển và thực tế thời gian qua lĩnh vực này đã gặt hái được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, thực tế thời gian qua và dự báo những tháng còn lại của năm 2012, đi cùng những biến động của nền kinh tế, lĩnh vực vận tải biển sẽ gặp rất nhiều thách thức. Trong buổi trả lời phỏng vấn Tạp chí Vietnam Business Forum, Tổng thư ký Hiệp hội Giao nhận kho vận Việt Nam (VIFFAS) Trần Huy Hiền khuyến nghị: “Để vượt thoát khó khăn, nắm bắt và tận dụng hiệu quả mọi cơ hội có được, bên cạnh các biện pháp cấp bách trong năm 2012 này, đòi hỏi Chính phủ cũng như bản thân mỗi doanh nghiệp cũng cần tiếp tục thực hiện những chiến lược dài hơi hướng tới sự phát triển bền vững ổn định của ngành vận tải biển”. Mỹ Châu thực hiện.

Có thể thấy hiện hệ thống cảng biển Việt Nam chủ yếu là cảng tổng hợp và cảng chuyên dùng, bến container chiếm rất ít, trong khi đó xu thế vận chuyển hàng hóa bằng container ngày một tăng cao. Ông nghĩ sao về vấn đề này?

Hiện nay đầu tư cho cảng containers đã vượt cầu và dư thừa so với dự báo, đặc biệt tại khu vực cụm cảng biển số 5 mà tập trung là khu vực cảng Cái Mép - Thị Vải. Tính đến hết 2010, năng lực cảng container tại Tp.Hồ Chí Minh và khu vực Cái Mép – Thị Vải đã vượt xa mức cầu. Có thể thấy câu chuyện thiếu, thừa vẫn sẽ tiếp diễn khi mà vấn đề quy hoạch cảng biển không theo sát thực tế. Đây thực sự là một hạn chế cần phải xóa bỏ trong thực tế phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam.

Mặc dù tiềm năng cảng biển Việt Nam là rất lớn nhưng việc quy hoạch, phát triển hệ thống cảng biển không đồng bộ từ nhiều năm nay đang gây áp lực trong khai thác hiệu quả năng lực cảng. Nếu nhìn ở phương diện vùng miền, có thể thấy một số địa phương còn thiếu cảng container so với cảng tổng hợp. Tuy nhiên tháo gỡ “nút thắt” này đòi hỏi một chiến lược lâu dài và được tính toán kỹ lưỡng, nếu đầu tư phát triển cảng container mà không nghiên cứu chi tiết về luồng hàng, số lượng hàng hóa cần vận chuyển hiện tại và khả năng phát triển trong tương lai sẽ dẫn đến thực trạng đầu tư dàn trải và không hiệu qủa.

Thời gian gần đây, ngành vận tải biển Việt Nam đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Ông có thể minh chứng cho thành công này bằng những con số cụ thể? Tuy nhiên đó chỉ là những thành quả ban đầu. Trong lộ trình phát triển của mình, hẳn ngành vận tải biển Việt Nam vẫn còn nhiều yếu kém cần phải khắc phục?

Với lợi thế về vị trí địa lý, thời gian qua vận tải biển đã trở thành lĩnh vực phát triển mạnh mẽ nhất trong số lĩnh vực vận tải công nghiệp ở Việt Nam, góp phần tích cực vào sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Từ nhiều năm nay, lượng hàng hóa thông qua cảng biển tăng trưởng bình quân đạt tốc độ 15%/năm. Năm 2011 lượng hàng hóa thông qua cảng biển Việt Nam đạt xấp xỉ 290 triệu tấn. Dự báo lượng hàng thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển vào năm 2015 sẽ đạt từ 500 - 600 triệu tấn/năm; 900 - 1.100 triệu tấn/năm vào năm 2020; 1.600 - 2.100 triệu tấn/năm vào năm 2030.

Tuy nhiên khi tham gia vào vận tải biển quốc tế, các công ty vận tải biển của Việt Nam chỉ đáp ứng được 20% tổng sản lượng vận chuyển, phần còn lại khoảng 80% chủ yếu do các công ty vận chuyển nước ngoài đảm nhận. Thực tế này đòi hỏi Nhà nước cũng như các doanh nghiệp Việt Nam kinh doanh trong lĩnh vực vận tải biển cần phải có chiến lược lâu dài và đầu tư đúng hướng thì mới dần dần nâng cao được thị phần vận tải đường biển.

Hiện nay rất nhiều doanh nghiệp giao nhận vận tải đang kêu khó, chủ yếu xoay quanh vấn đề thiếu thông tin để thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung vận tải đa phương thức; hải quan tiếp nhận hồ sơ điện tử rất chậm; cước phí qua trạm thu phí, phí cầu, phí bến bãi còn cao… Vậy để tháo gỡ những “nút thắt” trên, theo ông cần những biện pháp cũng như những đổi thay cần thiết nào?

Công bằng mà nói, những yếu kém trên đã được cải thiện nhiều trong thời gian qua. Thông tin về các thủ tục đăng ký vận tải đa phương thức rất công khai và minh bạch; các điều kiện cũng không khó để đáp ứng. Riêng vấn đề khai quan điện tử cũng được Nhà nước, Bộ Tài chính, Tổng Cục Hải quan đặc biệt quan tâm, nhất là đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính….Chính từ những nỗ lực trên mà việc hoàn thành thủ tục cho hàng hóa xuất nhập khẩu đã được cải thiện rất nhiều. Thủ tục đơn giản hơn, thời gian hoàn thành thủ tục nhanh hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động của doanh nghiệp logistics, vận tải biển. Tuy nhiên để theo kịp trình độ phát triển của hải quan các nước và một số nước phát triển trong khu vực, đòi hỏi cả lực lượng hải quan và doanh nghiệp logistics Việt Nam vẫn phải phấn đấu nhiều hơn.

Dưới góc nhìn của một chuyên gia, ông có thể chia sẻ thêm về những thách thức của thị trường vận tải biển trong năm 2012 này? Và Hiệp hội đã có những hỗ trợ thiết thực nào dành cho các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là các doanh nghiệp Hội viên?

Năm 2012, do tác động chung của hoạt động hàng hải - thương mại thế giới và những khó khăn trong nước nên phần lớn các doanh nghiệp vận tải biển đều có lợi nhuận thấp và gặp nhiều khó khăn trong hoạt động kinh doanh, phổ biến là tình trạng khan hiếm nguồn hàng. Nhiều doanh nghiệp bị nợ quá hạn kéo dài, nguy cơ dẫn đến phá sản là không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp vận tải biển lại bị thiệt thòi bởi khó tiếp cận với nguồn tài chính hỗ trợ thông qua các gói kích cầu của Chính phủ.

Thêm một thách thức nữa của nghành Logistcis Việt Nam trong năm 2012 này là tổng chi phí logistics rất cao. Trong chi phí logistics thì chi phí vận tải chiếm đến 50-60%. Chính vì vậy yêu cầu cấp bách hiện nay là làm sao để giảm được chi phí logistics, từ đó giảm được giá thành sản phẩm, làm cho giá cả hàng hóa Việt Nam rẻ hơn, có thể cạnh tranh với hàng hóa quốc tế.

Trước những khó khăn trên, với vai trò Hiệp hội đại diện và bảo vệ quyền lợi của những doanh nghiệp kinh doanh trong ngành logistics, VIFFAS sẽ phát huy hơn nữa vai trò cầu nối, tích cực nắm bắt và tổng hợp những khó khăn thách thức doanh nghiệp đang đối mặt phán ánh với Chính phủ, qua đó chủ động tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp. Ngoài ra Hiệp hội cũng tham gia vào qúa trình dự thảo, xây dựng các chính sách cũng như thường xuyên phổ biến các văn bản mới của Chính phủ liên quan đến ngành logistics để doanh nghiệp kịp cập nhật. Đồng thời nỗ lực kiến tạo môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi nhất cho doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao.