11:34:00 | 7/8/2012
Mục tiêu tiến tới một nền nông nghiệp sạch tại Việt Nam hiện đang gặp trở ngại lớn là tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp. Truy đến cùng, nhà quản lý lại cho rằng nguyên nhân chính là việc thả nổi quảng cáo thuốc bảo vệ thực vật trên các phương tiện thông tin đại chúng. Phỏng vấn ông NGUYỄN XUÂN HỒNG- Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, Bộ NN- PTNT. Nguyễn Thanh thực hiện.
Lượng thuốc BVTV được sử dụng ở nước ta tăng nhanh. Trong vòng 10 năm gần đây (2000 - 2011), số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng 4,5 lần và giá trị thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần. Giá trị nhập khẩu năm 2008 là 472 triệu USD, năm 2010 là 537 triệu USD, năm 2011 là 576 triệu USD.
Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng năm 2012 đã lên tới 1.446 hoạt chất, trong khi của các nước trong khu vực từ 400 đến 600 loại, như Trung Quốc 630 loại, Thái Lan, Ma-lai-xi-a 400-600 loại. Ông Hồng cho biết, ngày 20/7 vừa qua, tại cuộc họp triển khai kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại các tỉnh phía Nam, lãnh đạo Bộ NN- PTNT chính thức đánh giá việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón lá hiện nay là nguy cơ tăng thêm rủi ro cho sản xuất nông nghiệp, một nghề vốn đã tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất của gần 70% số dân.
Đã có quan điểm cho rằng, tình trạng lạm dụng thuốc BVTV hiện nay trong sản xuất nông nghiệp là hệ lụy của việc quảng cáo thuốc quá mức trên các phương tiện thông tin đại chúng. Ông có nhận xét gì về vấn đề này?
Hiện nay quảng cáo thuốc BVTV được thực hiện theo Luật Quảng cáo, đồng thời phải thực hiện theo Thông tư về việc quản lý thuốc BVTV. Thông tư mới thay thế Thông tư 38 cũng cũng có nhiều qui định về vấn đề quảng cáo thuốc BVTV. Chẳng hạn qui định: Chỉ được đăng quảng cáo những sản phẩm đã được đăng ký; hoặc qui định: phải quảng cáo đúng với các hướng dẫn, khuyến cáo của các cơ quan BVTV…
Cục BVTV cũng đã có hẳn một văn bản riêng gửi hết cho các đơn vị của Cục và mạng lưới các Chi cục yêu cầu cán bộ của Cục BVTV không tham gia vào các chương trình quảng cáo thuốc BVTV do các DN tài trợ. Chúng tôi xác định, trước hết phải chấn chỉnh quân mình. Cục BVTV cũng đã có những văn bản chấn chỉnh công tác quảng cáo thuốc.

Tuy nhiên tình trạng lọt lưới những quảng cáo vi phạm vẫn khá phổ biến; Cục BVTV có trách nhiệm trong tình trạng này không, thưa ông?
Hiện nay, trách nhiệm trong hoạt động này đang được phân cấp như sau: Cục BVTV chịu trách nhiệm về quản lý nội dung quảng cáo thuốc BVTV trên các phương tiện báo chí, truyền hình Trung ương. Ở cấp này tình hình vi phạm ít. Sự lỏng lẻo quảng cáo thuốc BVTV đang xảy ra phổ biến hơn ở các đài truyền hình địa phương. Mặc dù là truyền hình địa phương nhưng phạm vi phủ sóng ra cả khu vực các tỉnh lân cận; thậm chí đến những tỉnh ở khác miền như đài Cà Mau phát, Quảng Ninh vẫn có thể xem. Để chấn chỉnh, Cục BVTV đã phân cấp cho các Chi cục BVTV giám sát việc quảng cáo thuốc, nếu trái quy định phải có ý kiến ngay.
Như vậy, trong văn bản pháp qui vẫn còn kẽ hở, thưa ông?
Luật Quảng cáo quy định, trong vòng 5 ngày thì nội dung quảng cáo phải được phê duyệt. Có thể xảy ra trường hợp các đơn vị truyền thông không thực hiện đúng quy trình này nên các DN cứ thế triển khai. Nội dung quảng cáo của các DN thì các đơn vị BVTV phải kiểm tra và đối chiếu với giấy đăng ký. Phổ biến hiện nay là kiểu quảng cáo “tung hỏa mù” khiến người nông dân hiểu lầm. Chẳng hạn: một đơn vị có giấy đăng ký ghi thuốc trừ rầy nâu nhưng họ quảng cáo thuốc của họ trừ tất cả các loại rầy. Hoặc là thuốc chỉ phù hợp với 1 loại cây nhưng lại quảng cáo có tác dụng với nhiều loại cây. Thậm chí thuốc BVTV mà lại quảng cáo tăng năng suất; sáng bông chắc hạt là những trường hợp sai nghiêm trọng.
Hiện nay, không riêng gì việc quảng cáo quá giới hạn trên các phương tiện thông tin truyền thông mà các nhân viên tư vấn của không ít Công ty thuốc BVTV đã xuống tận hộ nông dân. Điều này có gì sai?
Việc đến từng hộ quảng cáo có thể giúp nông dân nhìn nhận các loại sâu bệnh được chuẩn xác hơn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp tư vấn viên lại đưa ra những khuyến cáo trái với quy định. Bởi mục tiêu lớn nhất của các DN là bán thuốc, làm thế nào chiếm lĩnh thị trường, tăng doanh thu chứ ít quan tâm đến quyền lợi người dân. Cho nên bất cứ sơ hở nào trong công tác quản lý thuốc BVTV đều có thể bị lợi dụng.
Nguyên tắc của vấn đề thuốc trừ bệnh là phải nhìn thời tiết, phải xem dự báo, phải xem tình trạng cây trồng để mà phun phòng. Thuốc trừ bệnh ở trên hạt là nguy hiểm nhất nếu phun vào thời điểm chuẩn bị thu hoạch, dễ để lại dư lượng. Có nhiều trường hợp đã chuẩn bị đến mùa thu hoạch mà nông sản bị dịch bệnh, tiếc của, lại kèm theo khuyến cáo của DN nên phun đại cho chắc ăn. Khuyến cáo dân như thế quá nguy hiểm.
Theo ông sẽ phải chấn chỉnh tình trạng này bằng cách nào?
Điều cốt yếu vẫn là phải nâng cao được nhận thức, hiểu biết của người nông dân. Điều thuận lợi là người nông dân thời nay có điều kiện tiếp xúc với các các phương tiện như: nghe đài, xem tivi, đọc báo, mạng internet… Tuy nhiên điều đó cũng dễ làm loạn thông tin. Do vậy, trách nhiệm đầu tiên là cán bộ quản lý địa phương phải có những lớp tập huấn hướng dẫn phân tích cho người dân cái được, cái mất khi sử dụng thuốc BVTV vượt quá quy định.
Thứ hai là phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương với các phương tiện truyền thông. Nếu DN đưa vấn đề quảng cáo không đúng thực tế thì người nông dân có thể nghe cơ quan quản lý nhà nước, nghe các nhà khoa học, nghe đài báo. Tôi tin chắc rằng nông dân sẽ tin các cơ quan quản lý nhà nước hơn các DN. Điều này chúng ta làm chưa tốt.
Thứ ba là phải chấn chỉnh và có những quy định chặt chẽ hơn về vấn đề quảng cáo, khuyến cáo sử dụng thuốc BVTV của các DN. Thanh tra, kiểm tra các nội dung quảng cáo có đúng thực tế, có đảm bảo hay không… Nếu DN nào vi phạm sẽ công bố danh tính trên các phương tiện truyền thông. Và việc quảng cáo bằng cách tiếp thị đến tận từng hộ gia đình, khuyến cáo, hướng dẫn sử dụng thuốc, trộn thuốc cũng phải được quản lý. Chứ không phải cứ xuống gặp dân rồi muốn làm gì thì làm.