Cần một chiến lược thu hút FDI mới

10:09:31 | 11/10/2012

Sau 25 năm thu hút FDI, khu vực này đã đóng góp khoảng 18,3% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam, chiếm 59% kim ngạch xuất khẩu, tạo ra khoảng 2 triệu việc làm trực tiếp cùng hàng chục vạn việc làm gián tiếp. Những con số ấn tượng này đã phần nào khẳng định được sức ảnh hưởng của khu vực FDI tới nền kinh tế Việt Nam trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, gia tăng năng lực cạnh tranh, đưa Việt Nam tiến nhanh trên con đường CNH – HĐH.

Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là khu vực phát triển năng động, ngày càng phát huy vai trò quan trọng và có những đóng góp đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hiện tại Việt Nam có hơn 13.500 dự án FDI còn hiệu lực. Những năm qua, FDI luôn giữ vai trò là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh tích lũy không đáp ứng nhu cầu về đầu tư, nguồn vốn FDI đã thực sự là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho đầu tư phát triển. Trong giai đoạn 2001 – 2005, FDI đã đóng góp 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tỷ trọng này tăng lên 24,8% trong thời kỳ 2006 – 2011.

FDI góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp. Cơ cấu kinh tế cũng có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng tích cực. Tỷ trọng ngành nông nghiệp từ chỗ chiếm 80% trong năm 1988, đến năm 2011 chỉ còn chiếm 22%, công nghiệp – dịch vụ chiếm 78%. Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực có vốn FDI luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng công nghiệp chung của cả nước. Năm 1996, tốc độ tăng trưởng công nghiệp của khu vực FDI là 21,7% trong khi tốc độ tăng trưởng công nghiệp cả nước là 14,2%. Năm 2000 tốc độ này tương ứng là 21,8% và 17,5%. Năm 2005 là 21,2% và 17,1%, năm 2010 là 17,2% và 14,7%.

Ngoài ra khu vực FDI đóng góp đáng kể vào thu ngân sách và các cân đối vĩ mô. Trong 5 năm 2006 - 2010, thu ngân sách trong khối doanh nghiệp FDI đạt hơn 10,5 tỷ USD, tăng bình quân trên 20%/năm. Trong năm 2011, thu nộp ngân sách của khu vực FDI (không kể thu từ dầu thô) đạt 3,5 tỷ USD. Đặc biệt khu vực FDI có nhiều đóng góp quan trọng và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nếu như năm 1995, khu vực FDI (kể cả dầu thô) chỉ chiếm 27% tổng xuất khẩu cả nước thì đến năm 2011 đã chiếm 59%.

Quan trọng hơn, khu vực FDI đã mang đến một phương thức đầu tư kinh doanh mới, từ đó có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước. Thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp có vốn FDI với các doanh nghiệp trong nước, công nghệ và năng lực quản lý, kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI sang các doanh nghiệp trong nước. Mặt khác, các doanh nghiệp FDI cũng tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa, qua đó nâng cao được năng lực của các doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, FDI đã mở rộng quy mô thị trường trong nước, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nhiều ngành, lĩnh vực dịch vụ cũng như sản phẩm mới. Đồng thời, FDI cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu, đưa các sản phẩm hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam vào thị trường quốc tế; tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam; đẩy nhanh tốc độ mở cửa thương mại; tăng khả năng ổn định cán cân thương mại của đất nước.

Cần chiến lược cụ thể

Qua 25 năm thu hút FDI, dù có lúc thịnh lúc suy nhưng phải công tâm nhìn nhận khu vực FDI đã có nhiều đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng GDP của Việt Nam. Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu thay đổi to lớn. Khác với các giai đoạn trước đây, Việt Nam giờ đã là nước có thu nhập trung bình với năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế tăng đáng kể. Ngoài ra Việt Nam cũng đã gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp, với mức thu nhập bình quân đầu người đạt 1.375 USD. Cùng với đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước đã lên tới 600.000 doanh nghiệp vào năm 2011.

Thực tế này đòi hỏi Việt Nam cần hoạch định cho mình một chiến lược mới trong thu hút, sử dụng và quản lý FDI ở tầm dài hạn, gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020. Mục tiêu là tối ưu hoá lợi ích dòng vốn này. Đây là nhu cầu tất yếu, bởi xu thế và đặc điểm phát triển mới của kinh tế Việt Nam đòi hỏi bảng phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và vị trí của dòng vốn FDI cũng như dòng vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ kinh tế Việt Nam phải được thay đổi một cách căn bản.

Song việc thay đổi định hướng thu hút vốn đầu tư nước ngoài thế nào, vị trí của vốn đầu tư nước ngoài trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam giai đoạn tới ra sao... cần phải có những nghiên cứu thấu đáo, những quy hoạch cụ thể, đặc biệt là trong xây dựng chính sách để lựa chọn và tiếp nhận dòng vốn quan trọng này, đảm bảo đúng tín hiệu thị trường và mục tiêu của nền kinh tế.

Tú Lê