10:04:51 | 29/4/2010
Trên bình diện thế giới, sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, các nhà đầu tư nước ngoài đã và đang cơ cấu và điều chỉnh lại chiến lược kinh doanh. Nhưng, Việt

Mặc dù số dự án và số vốn đăng ký FDI trong năm 2009 chỉ đạt ở mức thấp khoảng 21,48 tỷ USD (bằng 30% so với năm 2008), nhưng ngược lại, vốn thực hiện vẫn đạt ở mức khá (khoảng 10 tỷ USD, chỉ giảm 13% so với năm 2008).
Tuy nhiên, lĩnh vực thu hút đầu tư lại có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Trong khi năm 2008 các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp (912 dự án cấp mới với tổng mức đầu tư 35,6 tỷ USD, chiếm 58,6% số dự án và 53,4% tổng số vốn cấp mới), thì trong năm qua dòng vốn tập trung vào các ngành dịch vụ, đặc biệt là kinh doanh BĐS và lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống. Số dự án cấp mới ngành dịch vụ năm 2009 là 498 dự án với 13,2 tỷ USD (59,3% số dự án và 81,2% tổng FDI cấp mới), các dự án công nghiệp giảm mạnh chỉ đạt 325 dự án với 3 tỷ USD.
Không thể phủ nhận những đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sự phát triển kinh tế- xã hội của Việt Nam như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, du nhập công nghệ và phương thức quản lý… Tuy nhiên, đã đến lúc cần phải đánh giá thực sự đúng mức về những mặt trái của FDI tại Việt
Thống kê ở địa phương có kinh tế phát triển nhất cả nước là TP HCM cho thấy: Năm 2009, gần 60% số doanh nghiệp FDI báo cáo thua lỗ. Năm 2008, con số này là 61,3% và 2007 là gần 70% doanh nghiệp thuộc khu vực FDI lỗ. Đồng nghĩa với việc này là Nhà nước không thu được một đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào từ những công ty này. Sở dĩ như vậy vì các doanh nghiệp FDI luôn tìm cách gửi giá vào vật tư, máy móc nhập khẩu, làm tăng chi phí trung gian dẫn đến lỗ, một hình thức chuyển giá ra nước ngoài nhằm trốn thuế ở Việt Nam. Nhìn trên bình diện nộp ngân sách, mức đóng góp cho ngân sách của doanh nghiệp FDI đã không tăng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu và quy mô về giá trị sản xuất công nghiệp khi mà khoản thu từ khu vực này luôn chiếm dưới 10% tổng thu ngân sách quốc gia.
Không những thế, ở một số doanh nghiệp FDI, gần như toàn bộ các vấn đề về kỹ thuật, công nghệ và khâu hạch toán, người Việt Nam không được biết và hầu như không liên quan gì. Việc tăng trưởng của các doanh nghiệp loại này thường không có sự lan tỏa, kích thích gì đến nền kinh tế trong nước. Các doanh nghiệp FDI hoạt động chủ yếu trong những ngành sử dụng nhiều lao động. Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu vẫn là nhập khẩu vật liệu từ nước ngoài về thực hiện công đoạn gia công, không sử dụng nguồn nguyên liệu và vật tư sẵn có trong nước mà chủ yếu tận dụng đất đai và lao động giá rẻ ở Việt Nam trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thế nhưng, số lao động mà các FDI dự dụng không chiếm tỷ lệ đáng kể trong thị trường lao động hiện nay, thực tế, đây là thành phần kinh tế tạo việc làm thấp nhất so với khu vực tư nhân và Nhà nước.
Có nhiều ý kiến cho rằng đã đến lúc Việt
Đình Thanh (CTV Tuấn)