Vốn điều lệ: To hơn hay mạnh hơn?

10:42:10 | 6/5/2010

Xét trên phương diện luật pháp, năm 2010 là kỳ hạn cuối cùng để các ngân hàng thương mại (NHTMCP), có mức vốn dưới 3.000 tỷ đồng phải đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng. Nhưng hiện tại, trong số 39 NHTMCP có 21 NH dưới 2.000 tỷ đồng; 30 NH dưới 3.000 tỷ đồng và chỉ 9 NH có vốn trên 3.000 tỷ đồng.

Áp lực của pháp lý và thực tiễn kinh doanh trong việc đạt hệ số an toàn vốn đã buộc các tổ chức tín dụng phải tăng nhanh vốn điều lệ.


Buộc phải lớn nhanh


Theo yêu cầu của Chính phủ, trong năm nay các NHCP, liên doanh, 100% vốn nước ngoài và Quỹ tín dụng nhân dân trung ương phải tăng vốn pháp định từ 1.000 tỷ đồng lên tối thiểu 3.000 tỷ. Công ty cho thuê tài chính và công ty tài chính phải tăng lần lượt từ 100-300 tỷ đồng hiện nay lên 150 và 500 tỷ đồng.

Hầu hết các NH đề ra kế hoạch kinh doanh trong năm nay trong năm nay đều tính đến phương án tăng vốn điều lệ lên mức khá cao. Các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ chưa đáp ứng với vốn điều lệ 3.000 tỷ đồng theo lộ trình của NHNN đang phải chạy đua với thời gian để hoàn thành trước khi năm tài chính 2010 kết thúc. Bài toán đặt ra là làm thế nào để đồng vốn tăng thêm đạt hiệu quả sinh lời cao, đảm bảo tỷ lệ cổ tức tốt nhất cho cổ đông.

Theo kế hoạch vừa được ĐHCĐ thông qua Western Bank sẽ tăng vốn điều lệ từ 1.000 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng sau khi thực hiện việc niêm yết (dự kiến trong quý II này). Sau đó, NH sẽ tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng vào cuối năm 2010. Navibank đang có mức vốn 1000 tỷ đồng và đang tính chuyện tăng lên 3000 tỷ đồng. GiaDinh Bank, cũng có vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng. DaiA Bank, Ficombank, VietA Bank, NamA Bank… cũng đang chịu áp lực lớn trong việc tăng vốn điều lệ.

Không chỉ các NH nhỏ đang phải gấp rút chuẩn bị kế hoạch tăng vốn điều lệ theo quy định, các nhà băng quy mô lớn cũng có những kế hoạch tăng vốn đầy tham vọng để mở rộng hoạt động, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Một số NHTMCP lớn đang hướng tới mục tiêu 20.000 tỷ đồng trong vòng 5 năm tới, so với mức trên dưới 10.000 tỷ đồng hiện tại. DongA Bank trong năm nay cũng sẽ nâng vốn điều lệ từ 3.400 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng, Sacombank tăng vốn từ 6.700 tỷ đồng hiện nay lên 9.179 tỷ đồng vào cuối năm 2010… Tăng vốn điều lệ, NH sẽ có thêm điều kiện để mở rộng quy mô hoạt động. Chẳng hạn với việc mở rộng mạng lưới hoạt động, theo quy định hiện hành muốn mở một chi nhánh tại khu vực TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, ngân hàng phải đáp ứng đủ điều kiện 100 tỷ đồng/chi nhánh và 50 tỷ đồng/chi nhánh ở các tỉnh thành khác, trong khi trước đây chỉ cần từ 20 - 50 tỷ đồng cho một điểm.

Tăng vốn tăng áp lực

Việc huy động vốn qua sàn giao dịch chứng khoán không phải là quá khó với các NH, mặc dù “cổ phiếu vua” gần đây không còn hấp dẫn như vài năm trước. Các cổ đông sang lập là các tập đoàn, doanh nghiệp lớn cũng sẵn sàng góp vốn vào ngân hàng của mình. Nếu phát hành không vượt mệnh giá quá xa, thì việc bán cổ phần không khó, chưa kể nhiều NH còn phát hành không cho cổ đông từ nguồn thặng dư sẵn có. Việc tăng vốn khá dễ dàng, nhưng chính các NH lại e ngại tăng vốn điều lệ sẽ làm tăng áp lực lợi nhuận và cổ tức tương ứng. Trong khi đó, mục tiêu kiểm soát tăng trưởng tín dụng đã được NHNN đưa ra thông điệp từ đầu năm 2010 là khoảng 25%.

Theo ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank, tăng vốn điều lệ sẽ tăng áp lực lợi nhuận lên ban điều hành, song việc tăng vốn là yếu tố cần thiết cho quá trình phát triển hoạt động ngân hàng, nhất là khi Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Một lãnh đạo của Navibank cho biết, các cổ đông của Navibank, trong đó có 2 cổ đông lớn là Tập đoàn Dệt may Việt Nam và Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn luôn sẵn sàng cho việc góp vốn. Việc HĐQT và Ban điều hành phải nỗ lực để có thể đảm bảo tỷ lệ cổ tức cho cổ đông ở mức hợp lý là điều không dễ dàng trong bối cảnh thị trường còn khó khăn. Theo kế hoạch, trong năm nay Navibank dự kiến chi cổ tức cho cổ đông ở mức 10% so với năm 2009 là 11%. Lợi nhuận trước thuế Navibank xây dựng cho năm nay là trên 350 tỷ đồng.

Theo tính toán của giới NH, vốn điều lệ tăng lên 1.000 - 2.000 tỷ đồng đối với một ngân hàng là không quá lớn, nhưng cái quan trọng là trên cơ sở vốn điều lệ tăng thêm, các ngân hàng phải đảm bảo huy động gấp 10 lần vốn điều lệ và cho vay ra được thì mới đảm bảo tỷ lệ cổ tức. Đối với các NH quy mổ nhỏ, từ nông thôn chuyển nên thành thị, nguồn thu đóng góp vào tổng lợi nhuận vẫn chủ yếu từ hoạt động tín dụng, chiếm đến khoảng 80% trong tổng nguồn thu, trong khi đó nguồn thu này lại giảm so với trước. Cơ thế thỏa thuận lãi suất khiến họ có thể tăng lãi suất cho vay chút ít, nhưng chi phí huy động vốn đầu vào phải áp dụng mức lãi suất cao hơn so với các nhà băng quy mô lớn nên lãi biên thu về từ hoạt động tín dụng sẽ giảm.

Hiện một số NH đã đề nghị Chính phủ cho giãn tiến độ thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ theo Nghị định 141.

Có hai luồng ý kiến, một cho rằng nên kiên quyết buộc những tổ chức tín dụng không tự nâng vốn điều lệ theo quy định phải sáp nhập với nhau, để đẩy nhanh quá trình mua lại, sáp nhập các NH, không nên để quá nhiều NH nhỏ, làm thị trường rối thêm. Thống đốc Nguyễn Văn Giàu từng thẳng thắn: “Nếu không tăng được vốn theo quy định thì phải xử lý thôi, vì đã là pháp luật thì phải chấp hành. NHNN sẽ có nhiều biện pháp xử lý theo pháp luật hiện hành và không nuông chiều những trường hợp này. Không phải khi giá cổ phiếu gấp 10 lần thì hăng hái nhảy vào lập NH, còn khi thị trường chững lại thì lại kêu khó”.

Quan điểm thứ 2 đặt vấn đề tại sao cần đẩy vốn điều lệ các NH lên quá nhanh, mà không xuất phát từ nhu cầu nội tại của chính NH đó. NH nhỏ chưa chắc đã yếu kém. Việc đánh giá "yếu" hay "mạnh" nên căn cứ vào hiệu quả hoạt động chứ không nên nhìn vào quy mô. NH tuy có vốn điều lệ thấp nhưng hoạt động minh bạch, an toàn ,hiệu quả thì vẫn hơn "to xác" nhưng làm việc kém hiệu quả. NH yếu kém là do có tỉ lệ nợ xấu cao, kém minh bạch chứ không phải vốn điều lệ thấp.

Kim Nhung