15:58:42 | 24/12/2012
Năm 2012 là năm kinh tế Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Hoạt động kinh doanh đình đốn, hàng tồn kho lớn, nợ xấu nhiều, doanh nghiệp khó tiếp cận được các nguồn vốn ngân hàng, hàng loạt doanh nghiệp phải rời khỏi thị trường và rất nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng khó khăn…
Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì trong năm 2011 và 2012 đến nay, số doanh nghiệp ngưng hoạt động, đóng cửa, giải thể đã lên tới gần 100.000 doanh nghiệp, bằng 50% tổng số doanh nghiệp rời thị trường trong vòng 20 năm qua. Trong 11 tháng đầu năm 2012 đã có 62.794 doanh nghiệp mới được thành lập với tổng số vốn đăng ký là 403 ngàn tỷ đồng. Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động là 39.936 doanh nghiệp và số doanh nghiệp giải thể là 8.807 doanh nghiệp.
Khó tiếp cận vốn
Theo điều tra của VCCI, đối với doanh nghiệp trong nước, khi được hỏi tình hình hoạt động của doanh nghiệp năm vừa qua như thế nào thì tỷ lệ doanh nghiệp cho biết “ Hoạt động kinh doanh đã diễn ra như mong muốn” chỉ chiếm hơn 6%. Cụ thể hơn: 21,88% số DN được điều tra cho biết DN bị thua lỗ ( trong đó 3,22% là thua lỗ lớn), 19,20% DN hòa vốn; 52,71% DN có lãi chút ít và chỉ có 6,22% DN có lãi như mong muốn.

Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tình hình hoạt động kinh doanh cho biết thậm chí còn khó khăn hơn doanh nghiệp trong nước. Điều tra các doanh nghiệp FDI cho thấy: 27,92% doanh nghiệp cho biết kinh doanh thua lỗ trong năm 2012 (tương tự như 2011), 12% doanh nghiệp cho rằng hòa vốn. Chỉ khoảng 33% doanh nghiệp có lãi chút ít (từ 0 đến 5%).
Trong các vấn đề khó khăn mà doanh nghiệp nêu ra, vấn đề tín dụng là khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải trong năm 2012. Điều tra năm 2012 cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp đang vay vốn là 49,23%, giảm so với tỷ lệ 54,45% của điều tra năm 2011. Điều đáng chú ý là có hơn 3% tổng doanh nghiệp được điều tra đang vay vốn từ thị trường “chợ đen” với lãi suất bình quân lên đến 38%/năm. DNNVV vẫn là khu vực gặp khó khăn hơn cả. Dư nợ tín dụng cho DNNVV chiếm 35% dư nợ tín dụng của toàn bộ hệ thống và khó khăn về tài sản thế chấp vẫn là rào cản chính khiến cho khối doanh nghiệp này tiếp tục phải tiếp cận nguồn vốn phi chính thức. Tỷ lệ vốn dư nợ được bảo lãnh thông qua Quỹ Bảo lãnh DNNVVchiếm chưa đầy 1,1%.
Về các biện pháp và chính sách nhằm khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp, có tới 65,3% doanh nghiệp trả lời khảo sát VBIS cho rằng việc nới lỏng tín dụng đã có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, trong khi đó, có 24,9% doanh nghiệp cho rằng việc này không có tác động gì vì sức mua của thị trường giảm nên Dn cũng không có nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Chỉ có 9,1% doanh nghiệp cho rằng động thái này sẽ làm cho tình hình kinh tế vĩ mô lành mạnh hơn. Đến cuối tháng 10/2012, tổng mức tín dụng chỉ tăng hơn 3% so với năm 2011 cho thấy các doanh nghiệp vẫn rất khó khăn trong việc tiếp cận vốn.
Về mức lãi suất, khảo sát động thái doanh nghiệp quý 3 cho thấy 82,6% số doanh nghiệp hiện đang vay ở mức lãi suất 15% trở xuống. Tại thời điểm này vẫn còn 17,4% DN đang phải vay vơi smức lãi suất từ 16% trở lên. Tuy Chính phủ đang rất nỗ lực để hạ trần lãi suất cho vay đến 15% nhưng chỉ có 0,6% số doanh nghiệp cho rằng mức lãi vay này là hợp lý trong thời điểm hiện tại.
“Đặc trưng” tồn kho và nợ xấu
Đây được gọi là “đặc trưng” khó khăn của doanh nghiệp trong năm 2012. Có 63,1% doanh nghiệp tham gia trả lời khảo sát Động thái DNVN cho rằng hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại của doanh nghiệp trong giai đoạn này, trong đó 34,7% doanh nghiệp có hàng tồn kho quý III tăng lên so với quý II. Những doanh nghiệp trả lời không lo ngại về hàng tồn kho có cả những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vực dịch vụ. Do ảnh hưởng của thị trường bất động sản, tồn kho vật liệu xây dựng ở mức nghiêm trọng, thị trường tiêu thụ các mặt hàng này giảm đáng kể.
Bắt đầu từ tháng 4/2012, ngân hàng HSBC công bố hàng tháng Chỉ số mua sắm (PMI) của VN phản ánh động thái mua sắm đầu vào của các doanh nghiệp. Với kết quả 50,5 điểm trong tháng 11, so với 48,7 điểm trong tháng 10, chỉ số PMI ngành sản xuất VN của HSBC được điều chỉnh theo mùa đã vượt trên ngưỡng trung bình 50 điểm lần đầu tiên trong vòng 14 tháng qua. Mặc dù chỉ số tháng 11 chỉ thể hiện mức cải thiện nhỏ về các điều kiện kinh doanh trong ngành sản xuất nói chung nhưng đây là mức cao nhất kể từ tháng 9/2011. Điều này phản ánh rất rõ ràng xu thế sản xuất cầm chừng do lượng đơn đặt hàng có xu thế giảm.
Mối quan tâm hàng đầu là ổn định hệ thống tài chính
Nhìn chung, theo đánh giá của VCCI, vấn đề các nhà đầu tư, doanh nghiệp lo ngại hàng đầu là sự ổn định của hệ thống tài chính, tín dụng, đặc biệt là vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Mặc dù chia sẻ và tin tưởng vào những giải pháp quản lý của Ngân hàng NN (với các giải pháp như quy định trần lãi suất huy động và cho vay, trần tăng trưởng vốn tín dụng, quy định hạn chế cho vay bằng ngoại tệ…) nhưng các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài, kỳ vọng Chính phủ và NHNN cần nhanh chóng xóa bỏ những biện pháp hành chính tạm thời đã áp dụng càng sớm càng tốt, trở lại nhanh với xu hướng thị trường.
Một số giải pháp khác mà VCCI đề nghị là giảm gánh nặng xin phép, cấp phép, báo cáo, nâng cao chuẩn mực quản trị, quản trị rủi ro, tăng mức sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng trong nước, thực thi nghiêm túc và nhất quán các quy định hiện hành, tăng cường minh bạch trong phát hành trái phiếu Chính phủ, cho phép DN xuất khẩu được vay ngoại tệ…
Ngoài ra, theo VCCI, nhiều doanh nghiệp đề nghị các cơ quan quản lý nhà nước không tạo thêm khó khăn cho doanh nghiệp, giữ ổn định chính sách, giảm gánh nặng thuế, phí và cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ hơn nữa. Kinh nghiệm tốt của một số địa phương về việc chính quyền đồng hành cùng ngân hàng để rà xét các doanh nghiệp và các dự án, tạo điều kiện cho họ tiếp cận được nguồn vốn vay nên nhân rộng.
VCCI cũng cho rằng, Chính phủ nên giãn lộ trình tăng hoặc áp dụng các thuế, phí và lệ phí mới; nghiên cứu trình Quốc hội xem xét để giảm thuế suất thuế TNDN xuống mức 20%, phù hợp với xu thế hiện tại của một số nước trong khu vực và cũng là cách thiết thực để hỗ trợ các doanh nghiệp. Chính phủ cũng nên chỉ đào các địa phương nghiên cứu để giảm tiền thuê đất, bảo đảm giữ ổn định tiền thuê đất của doanh nghiệp trong một vài năm trước mắt.
Về tiền lương, VCCI cùng một số hiệp hội ngành nghề lớn đã kiến nghị lên các cơ quan chức năng về lộ trình tăng lương tối thiểu. Với tình hình năng suất lao động, triển vọng kiềm chế lạm phát và duy trì tăng trưởng theo kế hoạch, trong vòng 3 năm tới, đề xuất xác định mắc tăng lương tối thiểu tối đa là 15%/một năm.
Đặc biệt, dù trong bối cảnh kinh tế khó khăn nhưng các DN vẫn cho rằng Chính phủ vẫn cần ưu tiên hàng đầu cho cải cách thể chế, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế chứ không bị cuốn vào các giải pháp ngắn hạn. Thông điệp về ổn định kinh tế vĩ mô, sự kiện định và nhất quan trong cải cách thể chế và tái cơ cấu nền kinh tế là điều kiện để doanh nghiệp có được niềm tin và định hướng cho đầu tư dài hạn.
Quỳnh Chi