10:51:50 | 15/4/2013
Xung quanh mối quan hệ hợp tác trên nhiều mặt giữa Việt Nam và Singapore, Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn Phó Giáo sư. Tiến sĩ Bùi Tất Thắng – Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Anh Phương thực hiện.
Ông đánh giá thế nào về mối quan hệ hợp tác chính trị - kinh tế - xã hội giữa Việt Nam và Singapore trong thời gian qua?
Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1973, đặc biệt là từ khi Việt Nam trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á - ASEAN (năm 1995), quan hệ Việt Nam và Singapore ngày càng phát triển sâu, rộng và toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và quốc phòng – an ninh.
Trong lĩnh vực chính trị, hai nước đã thường xuyên duy trì các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao, thể hiện sự đồng tình trên nhiều lĩnh vực liên quan đến hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới; đặc biệt là tầm quan trọng của hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông, và về việc thực hiện Tuyên bố 6 điểm của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về vấn đề Biển Đông. Trong năm 2013 này, để thiết thực kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, hai nước đang tích cực đẩy mạnh các hoạt động nhằm tăng cường hơn nữa quan hệ giữa hai nước cả về song phương và đa phương, hướng tới xây dựng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Singapore.
Trong lĩnh vực hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, tháng 12 năm 2005, hai nước đã ký Hiệp định Khung kết nối hai nền kinh tế, kết nối 6 lĩnh vực kinh tế gồm đầu tư, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, công nghệ thông tin, tài chính, giáo dục và đào tạo. Singapore luôn duy trì là đối tác đầu tư và thương mại hàng đầu của Việt Nam. Kim ngạch thương mại hai chiều tăng đều, năm 2012 đạt 9 tỷ USD, tăng hơn 1,3 tỷ USD so với năm 2011. Mô hình thành công của các khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP) được coi là mô hình biểu tượng về hợp tác kinh tế song phương. Về đầu tư, tính đến ngày 20/3/2013, Singapore nằm ở vị trí thứ 3 trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt Nam của Bảng xếp hạng FDI với 1.139 dự án đầu tư, tổng vốn đăng ký đạt trên 27 tỷ USD. Riêng trong Quý I năm 2013 đã có 31 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam thì Singapore đứng vị trí thứ hai với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 2,278 tỷ USD, chiếm 37,8% tổng vốn đầu tư. Mặc dù còn khiêm tốn, song đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sang Singapore cũng đã đạt được kết quả khả quan, tính đến ngày 20/3/2013, Việt Nam đã có 46 dự án đầu tư sang Singapore với tổng số vốn đăng ký trên 1 tỷ USD.
Quan hệ giáo dục và văn hoá cũng ngày càng được tăng cường và mở rộng. Singapore tích cực hợp tác giúp đỡ Việt Nam trong các lĩnh vực như: khoa học, kỹ thuật, phát triển nhân lực, tài chính, du lịch, ngân hàng, chia sẻ kinh nghiệm với Việt Nam về kinh tế thị trường, hội nhập khu vực và quốc tế. Ở Singapore hiện nay có khoảng 12.000 người Việt Nam đang sinh sống, học tập, làm việc. Hai nước cùng thể hiện quan điểm tích cực trong việc xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.
Hiện Singapore là một trong những nhà đầu tư hàng đầu tại Việt Nam, vậy Việt Nam cần làm gì để thu hút các dự án từ quốc đảo sư tử này?
Để tăng cường thu hút đầu tư của Singapore, chúng tôi cho rằng cần đặc biệt lưu ý ở hai lĩnh vực. Một là xem xét cơ cấu bổ sung giữa hai nền kinh tế, trong đó thấy rõ những ưu thế nổi trội cũng như những mặt hạn chế của mỗi nước. Singapore được coi là nền kinh tế “mới công nghiệp hóa”, mức sống cao, có cơ sở hạ tầng và một số ngành công nghiệp phát triển hàng đầu Châu Á và thế giới như: cảng biển, công nghiệp đóng và sửa chữa tàu, công nghiệp lọc dầu, chế biến, điện tử và lắp ráp máy móc tinh vi, cơ cấu kinh tế có khu vực buôn bán và dịch vụ hiện đại chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy nhiên, là một quốc gia thành phố, quy mô diện tích tự nhiên nhỏ (chỉ hơn 692 km2, tương đương như huyện đảo Phú Quốc hay thành phố cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam), Singapore hầu như không có tài nguyên, hầu như mọi thứ nguyên liệu đều phải nhập từ bên ngoài, hàng năm phải nhập lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu ở trong nước. Trong khi đó, ngược lại với Singapore, nhiều mặt hạn chế của Singapore lại là những thế mạnh của kinh tế Việt Nam. Nhiều lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Singapore có thế mạnh thì ở Việt Nam, mức độ phát triển và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Vì vậy, có thể xem hai nền kinh tế Việt Nam và Singapore có nhiều cơ hội bổ sung “cơ cấu” trong thu hút đầu tư phát triển. Không chỉ có vậy, Singapore còn là nơi có nhiều Tập đoàn đa quốc gia (MNCs), các Công ty lớn thuộc các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU v.v… lập chi nhánh, công ty con hoặc văn phòng đại diện, là nơi được coi là bàn đạp để các Tập đoàn, công ty này mở rộng các hoạt động đầu tư, kinh doanh sang các quốc gia lân cận, bao gồm các nước ASEAN. Vì vậy, việc tập trung vào việc thu hút nguồn vốn từ các định chế tài chính quốc tế có trụ sở tại Singapore; thu hút các nhà đầu tư lớn có công nghệ cao, công nghệ nguồn là định hướng chiến lược của Việt Nam. Trong thời gian tới, cần tập trung thu hút đầu tư từ Singapore vào các lĩnh vực mà họ có lợi thế nhằm chuyển giao công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường, tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu và tăng cường sự liên kết giữa các khu vực. Các lĩnh vực mà Singapore có thế mạnh, như công nghệ cao, quy hoạch quản lý đất đai, quản lý đô thị, công nghiệp phụ trợ, dịch vụ dầu khí, dịch vụ vận tải biển…
Dẫu vậy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhu cầu thu hút đầu tư FDI có tính cạnh tranh cao, điều cần lưu ý thứ hai và quan trọng hơn cả nhất định phải là việc xây dựng một môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn. Về mặt này, trong nhiều năm qua, những cố gắng trong việc xây dựng thể chế, cải cách thủ tục hành chính… ở Việt Nam đã được cộng đồng đầu tư kinh doanh quốc tế ghi nhận và thực tế ngày càng trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn trong khu vực và trên thế giới.
Vậy theo ông, đâu sẽ là các điểm nhấn trong quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới thưa ông?
Năm 2013, nhân dịp hai nước kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1/8/1973-1/8/2013), với việc nâng tầm quan hệ thành đối tác chiến lược, có thể xem đó là dấu ấn đặc biệt đánh dấu việc mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ giữa hai nước trong thời gian tới. Với dấu mốc này, chúng tôi tin tưởng rằng, quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước sẽ gia tăng nhiều hơn nữa, sự phối hợp hành động trong các vấn đề liên quan tới xây dựng môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông sẽ ngày càng chặt chẽ; và hai nước sẽ cùng nhau đóng góp tích cực, hữu hiệu hơn trong việc thúc đẩy hợp tác của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để hoàn thành mục tiêu xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015.
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)