“Việt Nam vẫn là địa chỉ đầu tư hấp dẫn tại Asean”

10:42:13 | 16/7/2013

Đây là nhận định được các chuyên gia nước ngoài đưa ra tại lễ công bố báo cáo bán thường niên mang tên "Điểm lại: Cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam". Báo cáo đã đưa ra dự báo tốc độ tăng trưởng của kinh tế Việt Nam sẽ đạt mức 5,3% trong năm 2013 và khoảng 5,4% trong năm 2014, môi trường kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối ổn định.

Báo cáo đánh giá, trong thời gian qua, Việt Nam đã áp dụng chính sách tiền tệ và tài khóa để ổn định kinh tế vĩ mô, nhờ đó kinh tế vĩ mô của Việt Nam tương đối ổn định. Tỷ lệ lạm phát ở mức vừa phải là 6,7% (tháng 6/2013); tỷ giá giao dịch khá ổn định trong thời gian dài ( tỷ giá giao dịch trung bình của ngân hàng thương mại chỉ tăng khoảng 1.6% trong vòng 12 tháng qua). Dự trữ ngoại hối được cải thiện từ mức 2, 2 tháng nhập khẩu (quý I/2012) lên mức khoảng 2, 8 tháng nhập khẩu (quý I/2013). Mức độ rủi ro tín dụng quốc gia được cải thiện khi tỷ lệ rủi ro hoán đổi tín dụng (CDS) giảm từ mức 350 điểm cơ bản trong tháng 6-2012 xuống khoảng 250 điểm cơ bản vào tháng 6-2013.

Đáng chú ý, theo báo cáo, xuất khẩu tăng ở mức cao nhờ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2013 tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 66% tổng kim ngạch xuất khẩu và tăng gần 25% so với cùng kỳ năm ngoái. Cơ cấu hàng xuất khẩu đa dạng hơn và tỷ trọng hàng xuất khẩu công nghệ cao cũng tăng lên, trong đó xuất khẩu điện thoại di động và linh kiện trở thành mặt hàng có giá trị lớn nhất (9, 9 tỷ USD) và vượt qua các mặt hàng truyền thống của Việt Nam như: dầu thô, may mặc, giày dép... Điện thoại di động, điện tử, máy tính và linh kiện chiếm gần 1/5 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Về đầu tư FDI, theo báo cáo, đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm từ 11.8% GDP (năm 2008) xuống khoảng 7.7% GDP trong 6 tháng đầu năm 2013, trong đó đáng ngại là mức cạnh trạnh mạnh hơn của các nước trong khu vực trong việc thu hút đầu tư nước ngoài (như Thái Lan, In-đô-nê-sia) và các đối thủ tiềm năng mới (Myanmar). Tuy nhiên, theo Điều tra triển vọng kinh doanh ASEAN của Hiệp hội Kinh doanh Singapore và AmCham, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá Việt Nam là điạ chỉ đầu tư hấp dẫn trong tương lai ở khu vực ASEAN.

Báo cáo đã đưa ra những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đó là tăng trưởng chậm kéo dài nhất kể từ khi tiến hành công cuộc cải cách kinh tế cuối những năm 80. Tăng trưởng GDP tăng 5.25 % trong năm 2012 (theo giá so sánh 2010), mức thấp nhất kể từ năm 1998. Từ 2010 đến 2013, Việt Nam tăng trưởng chậm hơn Indonesia và Philippines- đây là lần đầu tiên trong hai thập kỉ vừa qua.

Đặc biệt, tỉ lệ đầu tư giảm, PMI giảm và bán lẻ tăng chậm: tổng đầu tư giảm còn 29.6 % GDP trong quý 1 năm 2013 so với 38.5 % năm 2010; chỉ số mua hàng của nhà quản trị (PMI) vẫn nằm dưới mức 50 trong phần lớn năm 2012 và 2013 (PMI dưới ngưỡng 50 biểu thị sản xuất giảm sút); tăng trưởng bán lẻ và dịch vụ (tính giá trị danh nghĩa) đã giảm từ 24% năm 2011 xuống 16% năm 2012 và còn 11,9% trong nửa đầu năm 2013.

Bên cạnh đó, nhập khẩu của khu vực trong nước giảm 7% trong năm 2012, cho thấy nhu cầu thấp đối với máy móc thiết bị và hàng hóa trung gian, cũng như tiêu dùng cá nhân.

Báo cáo cũng đánh giá, tình hình ngân sách nhà nước không thuận lợi: tăng trưởng kinh tế chậm và khó khăn trong sản xuất kinh doanh làm giảm mức thu ngân sách theo kế hoạch, kết hợp với tăng chi cho hỗ trợ doanh nghiệp, hồi phục kinh tế. Tổng thu ngân sách giảm từ 30% GDP giữa những năm 2000 xuống mức thấp nhất lịch sử 22.8 % GDP năm 2012. Chi đầu tư (kể cả các khoản ngoài ngân sách) dự kiến giảm từ 12,6% GDP năm 2010 xuống 7,8% năm 2012. Nợ nước ngoài vẫn bền vững vì thặng dư cán cân vãng lai ở mức cao, nhưng nợ trong nước đang gia tăng.

Theo chuyên gia kinh tế trưởng WB tại Việt Nam, ông Deepak Mishra, cải cách cơ cấu tại VN khá chậm, quá trình mới bắt đầu nhưng chưa được thực hiện quyết liệt. Quá trình cơ cấu lại khu vực tài chính - ngân hàng vẫn còn mong manh tuy những rủi ro hệ thống đã có phần được cải thiện. Việc tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ thận trọng của NHNN sẽ góp phần ngăn ngừa và giảm thiểu tổn thương của khu vực này. Việc thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) là bước đi cụ thể của Chính phủ trong việc sử lý nợ xấu, tuy nhiên, xử lý nợ xấu đòi hỏi cách tiếp cận tích cực và dài hạn.

Về cải cách khu vực DNNN, ông Deepak Mishra đánh giá, tiến độ cải cách và cơ cấu lại vẫn hết sức chậm chạp sau 2 năm kể từ ngày Chính phủ phê duyệt chủ trương và lộ trình cải cách. Hiện tại các cơ quan hữu quan mới đang triển khai xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp lý nhằm thiết lập một khuôn khổ tổng hợp để quản lý và điều hành các DNNN.
“Quá trình cải cách DNNN khó có thể thành công nếu không có mộ cơ chế điều phối liên ngành hữu hiệu và tăng cường tính mính bạch”, ông Deepak Mishra khẳng định.

Trước những diễn biến trên, báo cáo đánh giá: tăng trưởng kinh tế của VN ước tính ở mức 5.3% trong năm 2013 và khoảng 5.4% vào năm 2014; lạm phát dự kiến ở mức 8.2% vào thời điểm cuối năm 2013.

Tuy nhiên, một số rủi ro có thể xảy ra, đó là tăng trưởng kinh tế chậm lại có thể tạo sức ép tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa, từ đó sẽ tạo áp lực lạm phát và làm xói mòn các thành quả mong manh của ổn định kinh tế vĩ mô. Ngoài ra, việc triển khai chậm trễ các chương trình cải cách cơ cấu sẽ làm suy giảm niềm tin của các nhà đầu tư và tiếp tục tác động tiêu cực tới triển vọng tăng trưởng.

Quỳnh Anh