Kon Tum: Điểm sáng phát triển kinh tế của khu vực Tây Nguyên

09:28:58 | 8/10/2013

Sau hơn 20 năm được tái lập, với sự nỗ lực vượt bậc, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa quan trọng, tạo được những dấu ấn khá rõ nét về phát triển kinh tế- xã hội (KT – XH), xóa đói giảm nghèo, góp phần vào thành tựu chung của cả nước trong công cuộc đổi mới. Để tìm hiểu về những thành tựu cũng như định hướng phát triển của tỉnh, Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn với ông Nguyễn Văn Hùng – Chủ tịch UBND tỉnh Kon Tum. Lâm Châu thực hiện.

Ông có thể điểm lại những thành tựu nổi bật trong phát triển KT-XH của tỉnh Kon Tum sau hơn 20 năm tái lập?

Về kinh tế, tăng trưởng của tỉnh năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn 1992-1995 đạt 9,15%/năm; giai đoạn 1996-2000 đạt 9,85%/năm; giai đoạn 2001-2005 đạt 11%/năm; giai đoạn 2005-2010 đạt 14,51%/năm); giai đoạn 2011-2012 đạt 13,89%/năm và năm 2013 ước đạt 12,4%. Thu ngân sách nhà nước tại địa bàn tăng nhanh.

Nông - lâm nghiệp có những chuyển biến tích cực, phát triển nhanh theo hướng sản xuất hàng hoá (giai đoạn 1992-1995: tăng trưởng 3,28%/năm; 1996-2000: 10,7%/năm; 2001-2005: 9,15%/năm; 2005-2010 là 7,52%/năm; 2011-2012 đạt 8,24%/năm; ước năm 2013 đạt 6,78%). Ngoài các loại cây-con truyền thống, các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê được chú trọng phát triển, đem lại nguồn lợi kinh tế cao. Lĩnh vực công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, giai đoạn 1996-2000 là 14,5%/năm; 2001 - 2005 là 16,76%/năm; 2005 - 2010 là 25,5%/năm và 2011 - 2012 đạt 17,35%/năm; ước năm 2013 tăng 15,88%. Nhờ những chủ trương đúng đắn, chính sách hợp lý, công nghiệp Kon Tum đã từng bước ổn định và ngày càng phát triển đúng hướng. Thương mại - dịch vụ có bước phát triển (giai đoạn 1996-2000 tăng 6,8%/năm; giai đoạn 2001-2005 tăng 11,18%/năm; giai đoạn 2006-2010 đạt 16,49%; 2011-2012 đạt 31,64%/năm).

Ba vùng kinh tế động lực, tiềm năng về thuỷ điện, khoáng sản, đất lâm nghiệp đã thu hút được nhiều doanh nghiệp đến tìm hiểu và đầu tư. Kết cấu hạ tầng của tỉnh đã phát triển mạnh, từng bước đáp ứng các nhu cầu dân sinh và yêu cầu phát triển KT - XH, tạo điều kiện cho Kon Tum giao lưu thuận lợi với các tỉnh, các địa phương trong nước và với các nước trong khu vực.

Chất lượng giáo dục, y tế ngày càng được cải thiện, công tác xoá đói giảm nghèo cũng được đẩy mạnh triển khai, nhờ đó chất lượng đời sống của người dân ngày càng nâng cao. Tuy nhiên theo tôi, thành tựu có ý nghĩa đặc biệt to lớn là Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đã đoàn kết, gắn bó vượt qua khó khăn, thách thức, tin tưởng hướng đến tương lai, trước mắt là phấn đấu cơ bản thoát nghèo vào cuối năm 2015.

Để phát huy lợi thế của Kon Tum trong mối quan hệ vùng khu vực miền Trung, Tây Nguyên, phấn đấu đưa Kon Tum cơ bản thoát nghèo vào năm 2015, trở thành điểm sáng ở Tây Nguyên, tỉnh có những chương trình hành động cũng như những mũi nhọn đột phá cụ thể nào?

Để khai thác, phát huy các tiềm năng, tạo bước đột phá phát triển KT - XH, tỉnh Kon Tum đã ban hành Đề án về xây dựng, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và sản phẩm chủ lực. Trong đó, xác định giai đoạn 2011-2015 xây dựng, phát triển 5 ngành, nhóm ngành: trồng cây lâu năm, trồng rừng và chăm sóc rừng, công nghiệp chế biến nông lâm sản, sản xuất sản phẩm từ khoáng sản, sản xuất - truyền tải và phân phối điện trở thành những ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh; xây dựng, phát triển 9 sản phẩm: cà phê, cao su và các sản phẩm chế biến từ cao su, sắn và các sản phẩm chế biến từ sắn, sâm Ngọc Linh, rau hoa xứ lạnh, thủy sản nước ngọt, bột giấy và giấy, gạch ngói, điện trở thành các sản phẩm chủ lực của tỉnh.

Kết quả, đến nay có khoảng 1.100 ha diện tích chè, rau, hoa, quả có giá trị kinh tế cao được doanh nghiệp đầu tư và 280 ha được các hộ gia đình, cá nhân đăng ký đầu tư; có 3 dự án nuôi cá hồi, cá tầm thương phẩm gắn với du lịch sinh thái và 4 hợp tác xã nuôi cá tầm; đã cho nở thành công giống cá tầm để cung cấp cho địa bàn trong tỉnh và một số tỉnh lân cận. Các doanh nghiệp đã đầu tư phát triển 7,84 ha vườn ươm giống và 169 ha Sâm Ngọc Linh, góp phần nâng cao thu nhập, giảm nghèo cho người dân trên địa bàn tỉnh.

Hiện tại, Kon Tum đang đứng trước những cơ hội phát triển mới, với chủ trương của Chính phủ như phê duyệt Quy hoạch xây dựng vùng du lịch sinh thái Măng Đen, đầu tư Quốc lộ 24, đường Hồ Chí Minh (đoạn Kon Tum - Gia Lai). Ngoài ra tỉnh đã chủ động đẩy mạnh quan hệ hợp tác đối ngoại, đặt nền tảng ban đầu cho việc hình thành hành lang kinh tế kết nối các tỉnh qua cửa khẩu Quốc tế Bờ Y gồm: Ubon Ratchathani, Sisaket (Thái Lan), Champasak, Sê Kông, Attapeu (Lào), Kon Tum và các tỉnh Tây Nguyên, Miền Trung (Việt Nam). Năm 2012, tỉnh Kon Tum đã đề nghị với Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức hội nghị Ủy ban điều phối lần thứ 8 khu vực tam giác phát triển Campuchia – Lào – Việt Nam (CLV) và các hoạt động bên lề tại tỉnh Kon Tum. Khu kinh tế Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y - một trong 8 cửa khẩu Chính phủ xác định đầu tư giai đoạn 2013-2015 sẽ thực sự mang lại lợi ích cho sự phát triển KT - XH của địa phương cũng như tạo thời cơ, động lực mới cho sự phát triển của tỉnh trong thời gian tới, góp phần thúc đẩy phát triển chung của khu vực miền Trung, Tây Nguyên.

Là một địa phương thuộc khu vực Tam giác phát triển CLV, ông có những đề xuất gì để đẩy mạnh liên kết, hợp tác đầu tư với các địa phương trong khu vực này?

Trong thời gian qua, mặt dù đạt được những kết quả quan trọng, nhưng Tam giác CLV vẫn là khu vực KT - XH đặc biệt khó khăn. Thách thức cơ bản ngăn cản sự phát triển là thiếu sự liên kết, gắn kết vùng, liên vùng, bên cạnh đó hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và xuống cấp đã hạn chế khả năng kết nối khu vực với các trung tâm kinh tế lớn; nguồn nhân lực trong khu vực còn thiếu, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao; cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ các doanh nghiệp khi tham gia đầu tư vào khu vực chưa thật sự hấp dẫn… Để đẩy mạnh liên kết, hợp tác đầu tư với các địa phương trong Tam giác CLV, theo tôi cần tập trung vào 7 vấn đề.

Thứ nhất, xác định trung tâm liên kết - vùng động lực của khu vực Tam giác phát triển là khu vực ngã 3 Đông Dương, nơi tiếp giáp chung của 3 nước Campuchia - Lào - Việt Nam, tạo điểm nhấn tập trung đầu tư, có tác dụng lan tỏa, thu hút sự quan tâm của các nhà tài trợ và tổ chức quốc tế. Từ đây, đã có khả năng kết nối đến các trung tâm kinh tế vùng Đông Bắc Thái Lan (Ubon Ratchathani), Nam Lào (Chămpasăk), các tỉnh Tây Nguyên đến Đông Nam bộ, Tp.HCM, các KKT Nhơn Hội, Dung Quất, Chu Lai và Tp.Đà Nẵng; hướng đến mở cặp cửa khẩu Đăk Côi (Kon Tum) - KonTuyNaek (Rattanakiri, Campuchia) kết hợp với cặp cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) - Phu Cưa (Attapư) sẽ trở thành trung tâm liên kết hoàn chỉnh của Tam giác phát triển.

Thứ hai, xây dựng các hành lang giao thông kết nối khu vực để phát triển trở thành hành lang kinh tế, các tuyến đường phục vụ cho phát triển du lịch, nông nghiệp, công nghiệp, các tuyến đường dẫn tới các cửa khẩu và khu vực biên giới thúc đẩy phát triển Tam giác CLV.

Thứ ba, liên kết trong phát triển nông nghiệp, tạo nên một nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, tập trung, có sức cạnh tranh cao. Xây dựng thương hiệu một số sản phẩm có lợi thế so sánh của khu vực Tam giác phát triển như cà phê, cao su, ca cao, hồ tiêu, sợi bông... Đặc biệt, sớm kêu gọi đầu tư hình thành trung tâm sản xuất cao su công nghệ cao của khu vực.

Thứ tư, hợp tác phân công đào tạo nguồn nhân lực của khu vực tại các cơ sở giáo dục đã có.

Thứ năm, Chính phủ ba nước cần có cơ chế, chính sách đặc thù và ưu đãi phát triển KT - XH chung cho khu vực tam giác phát triển, trong đó chú trọng kêu gọi thu hút đầu tư từ ngoài khu vực, thu hút ODA, FDI...; tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp gắn bó với vùng Tam giác phát triển, thống nhất một cơ chế thủ tục hành chính chung về vận chuyển hàng hóa, vốn và đi lại qua biên giới trong Tam giác CLV.

Thứ sáu, lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư của ba nước, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và các tỉnh trong vùng Tam giác phát triển cần thống nhất hình thành tổ chức, cơ chế phối hợp giữa các địa phương trong Khu vực Tam giác phát triển.

Thứ bảy, khu vực Tam giác CLV ngoài vấn đề liên kết để phát triển KT - XH, cần liên kết hợp tác trong các vấn đề an ninh và đối ngoại để tăng cường hòa bình, ổn định và phát triển trong khu vực và an ninh, an toàn cho các nhà đầu tư, cư dân trong khu vực Tam giác phát triển.