Tiếp thu công nghệ chế biến nông sản từ Nhật Bản

14:25:49 | 8/5/2015

Là một quốc gia có thế mạnh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, đặc biệt công nghệ cao và cũng có nhiều dự án đầu tư thành công. Tuy nhiên, thời gian gần đây Nhật Bản lại dành sự quan tâm nhiều đến ngành nông nghiệp Việt Nam đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ chế biến nông sản.

Chế biến là một trong những khâu quan trọng, tạo nên giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị nông sản. Việc khuyến khích và đẩy mạnh đầu tư vào chế biến nông sản vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu của Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên, việc đẩy mạnh phát triển lĩnh vực chế biến nông sản rất cần sự quan tâm, đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì vậy, việc đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng chế biến tinh, chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, đồng thời bảo vệ môi trường của các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào lĩnh vực này là một ưu tiên hàng đầu của Bộ NN & PTNT.


Ưu tiên cho phát triển nông nghiệp bền vững

Trong khuôn khổ chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam mới đây của Bộ Nông – Lâm – Ngư nghiệp Nhật Bản, do Bộ trưởng ông Koya Nishikawa dẫn đầu, đoàn đã đến các địa phương TP.HCM và Đồng Nai thực hiện ký kết hợp tác trong phát triển nông nghiệp giữa hai bên. Tại TP.HCM, đoàn đã dự lễ ký kết Biên bản thảo luận về hợp tác trong nông nghiệp, ngành công nghiệp thực phẩm giữa thành phố Hồ Chí Minh và Nhật Bản. Bộ Nông – Lâm - Ngư nghiệp Nhật Bản đề nghị TP. HCM hợp tác phát triển ngành nông nghiệp bền vững cần quan tâm phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, chuỗi cung ứng lạnh; củng cố hệ thống pháp luật dựa trên Luật an toàn thực phẩm và cải thiện tính minh bạch trong công tác quản lý luật và các quy định liên quan đến thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến thực phẩm.

Theo biên bản thảo luận, các lĩnh vực quan tâm hợp tác của TP HCM bao gồm: việc gia tăng sản lượng và chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học; cải thiện mức độ an toàn của các sản phẩm nông nghiệp; kỹ thuật chế biến và bảo quản sau thu hoạch. Ngoài ra, còn có việc chọn lọc và lai giống các loại gia súc, hoa màu và hoa; sản xuất các sản phẩm nông sản chất lượng cao đáp ứng các tiêu chuẩn của Nhật Bản. Thời gian tới, hai bên sẽ có Đối thoại Hợp tác Nông nghiệp Việt Nam - Nhật Bản để giúp cho các doanh nghiệp hai bên tìm hiểu về thế mạnh, nhu cầu hợp tác đầu tư.

Thông tin từ Bộ Nông-Lâm-Thủy sản Nhật Bản cho thấy, trong vòng 50 năm trở lại đây, tỉ trọng GDP của nông nghiệp nước này giảm từ 9% xuống 1%, tỉ trọng nhân lực cắt giảm từ 28% xuống thấp hơn 3%, 25% diện tích đất canh tác đã bị thu hẹp… Chưa dừng ở đó, trước thềm Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) giữa Nhật và 11 quốc gia khác, việc dỡ bỏ thuế quan có thể khiến khả năng tự cung lương thực của Nhật giảm mạnh từ 40% xuống 14%.

Thế nhưng, nếu nhìn ở khía cạnh khác, thế mạnh của Việt Nam và Nhật có thể bổ sung cho nhau. Những hạn chế về kỹ thuật sản xuất và xuất khẩu, vấn đề mở cửa thị trường còn hạn chế trong ngành nông sản của Việt Nam sẽ được “bù đắp” nếu doanh nghiệp Nhật đưa quy trình sản xuất, công nghệ của họ theo “dòng chảy” TPP vào ứng dụng. Ngược lại, nguồn nhân lực và giá cả sản xuất nông sản rẻ gấp nhiều lần của Việt Nam sẽ là ưu thế để Nhật có thể tận dụng tái xuất khẩu về đất nước của họ, nơi người dân không còn mặn mà, không còn sức lực cạnh tranh trong việc sản xuất nông nghiệp.

Học phương thức tổ chức sản xuất

Trên thực tế, năm 2013, Việt Nam đã được Nhật Bản chuyển giao công nghệ bảo quản nông sản, thực phẩm (CELLS ALIVE SYSTEM-CAS) rất tiên tiến. Công nghệ này cho phép, nông sản, thực phẩm giữ nguyên được cấu trúc, hương vị, màu sắc và dinh dưỡng từ hai năm trở lên. Nhiều người đã kỳ vọng, công nghệ hiện đại này sẽ giúp cải thiện chất lượng nông sản Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế chất lượng nông sản của Việt Nam vẫn chưa được cải thiện. Gạo, cà phê... của Việt Nam khi ra quốc tế vẫn không có thương hiệu. 

Do đó, việc Nhật chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất NN của VN là điều kiện tiền đề giúp nâng cao thương hiệu nông sản Việt. Tuy nhiên, nếu Việt Nam không bắt đầu học đối tác từ cách thức tổ chức ngành công nghiệp chế biến thì hiệu quả hợp tác vẫn không cao.

Để phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp nói chung và khoa học kỹ thuật chế biến nông sản nói riêng, Nhật Bản chủ yếu dựa vào các viện nghiên cứu nông nghiệp của Nhà nước và của chính quyền các địa phương. Thời gian này, những viện nghiên cứu vùng được nhà nước thành lập, trong đó Viện quốc gia về khoa học nông nghiệp được thành lập ở cấp Nhà nước là cơ quan có trách nhiệm tổng hợp gắn kết toàn bộ các viện nghiên cứu cấp ngành thành một khối. Việc nghiên cứu nông nghiệp do Viện nghiên cứu quốc gia và các viện nghiên cứu nông nghiệp chuyên ngành cùng đảm nhiệm. Bên cạnh đó, các viện nghiên cứu nông nghiệp cũng tăng cường liên kết nghiên cứu với các trường đại học, các xí nghiệp tư nhân và các hội khuyến nông. Nhờ vậy, việc phát triển và mở rộng việc áp dụng các nghiên cứu khoa học kỹ thuật nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào việc tăng cường hiệu quả sản xuất nông nghiệp song song với những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực phát triển cơ giới hoá, đầu tư và hoàn thiện những cơ sở hạ tầng. Đây cũng là cách mà chúng ta nên học hỏi Nhật Bản.

Võ Thành Đô

Phó Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và nghề muối,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn