10:16:20 | 2/8/2010

Một phần đầu tư sẽ phải thực hiện dưới dạng hợp tác công- tư nhằm tận dụng lợi thế của khu vực DN tư nhân về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và vốn đầu tư. Tuy nhiên, để hợp tác công tư trở thành hiện thực, Việt
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt
Nhu cầu cơ sở hạ tầng Việt Nam là rất lớn; trong đó nhu cầu về điện năng tiếp tục tăng trên 15% một năm và sẽ cần khoảng 60 tỷ USD vào năm 2025. Nhu cầu đầu tư về viễn thông, bến cảng, sân bay, đường bộ, đường sắt và vận tải đường không cũng rất lớn. Bộ KH&ĐT dự tính Việt Nam cần 139 tỷ USD trong vòng 5 năm tới để đầu tư vào những lĩnh vực này. Yêu cầu nhanh chóng cải thiện cơ sở hạ tầng của Việt
Chỉ có rất ít dự án nhà nước-tư nhân được hợp tác
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành dự thảo quy chế cho phép tiến hành các dự án thí điểm hợp tác nhà nước - tư nhân trong các lĩnh vực: đường xã, cầu cống, đường hầm,bến phà; đường sắt, cầu đường sắt và hầm đường sắt; giao thông thành thị; sân bay, cảng biển; hệ thống cấp nước; nhà máy điện…
Tuy nhiên, theo ông Tony Foster, Nhóm công tác cơ sở hạ tầng, Diễn đàn DNVN, có 5 lý do chính khiến đầu tư của tư nhân vào cơ sở hạ tầng ở Việt Nam chưa được hiện thực hoá với tốc độ như ở Trung Quốc và các nước khác, đó là luật pháp chưa hoàn thành, các hạn chế về tài chính, yếu tố rủi ro, gánh nặng tài chính, hạn chế về khả năng chi trả.
Cho đến nay mới chỉ có khá ít đầu tư tư nhân ở Việt
Sự tham gia của tư nhân, gồm các nhà đầu tư nước ngoài, vào các lĩnh vực cơ sở hạ tầng Việt Nam dưới hình thức các dự án xây dựng-kinh doanh-chuyển giao (BOT), xây dựng-chuyển giao-kinh doanh (BTO) và xây dựng-chuyển giao (BT) đã được công nhận theo một khuôn khổ pháp lý cơ bản từ năm 1993. Tháng 8/1998, Nghị định 62 được ban hành mới, sau đó được sửa đổi bằng Nghị định 02 vào tháng 8/1999. Thành quả cuối cùng của những nỗ lực này là 2 dự án duy nhất: Phú Mỹ 2-2 và Phú Mỹ 3.
Một phần nhờ nhận ra những hạn chế trong khung pháp lý mà Nghị định 78 ngày
Một phương thức nữa để tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng tại Việt
Những dự án này rõ ràng dễ triển khai hơn vì Chính phủ ít tham gia nhưng cũng còn một số tồn tại cơ bản. Các quy định BOT ưu đãi hơn so với các dự án điện độc lập (IPP) xây dựng ngoài khuôn khổ quy định về BOT; do vậy các dự án BOT dễ thu hút vốn hơn. Những khác biệt chính là ở chỗ: Luật áp dụng đối với các văn kiện của dự án BOT có thể là luật nước ngoài; điều khoản về giải quyết tranh chấp trong các văn kiện dự án BOT có thể là của nước ngoài (đây là yếu tố quan trọng cho khả năng có thể gọi được vốn của PPA); thuế suất trước đây ưu đãi hơn…
Theo Diễn đàn DNVN, các nhà đầu tư trong nước trong nhiều dự án điện lớn khác cũng đã tìm cách tránh các quy định BOT và thành lập công ty cổ phần, kèm theo một động tác bổ sung nhằm thu hút nguồn tài chính từ nước ngoài cần thiết cho các dự án lớn là cố gắng đưa những mặt lợi của các quy định về BOT vào một khoản bảo lãnh đặc biệt của Chính phủ. Có điều là chưa rõ Chính phủ có thực sự muốn cấp khoản bảo lãnh còn đang được cân nhắc này hay không. Nếu thực sự có những khoản bảo lãnh này thì chắc chắn sẽ tạo ra một bước tiến đáng kể theo hướng đan xen giữa các quy định BOT và quy định hợp tác nhà nước tư nhân đối với các dự án đàm phán song phương.
Cần có một cơ quan nhà nước đầu mối
Theo ông Tony, do chưa có đường lối chỉ đạo trong các quy chế nên Việt
“Việt Nam cũng cần xây dựng kế hoạch, thiết kế đầy đủ các dự án trước khi tiến hành gọi thầu để tránh nảy sinh vấn đề làm nản lòng nhà thầu muốn tham gia sau này, dẫn đến tăng giá thành dự án do thiếu cạnh tranh”, ông Tony nói.
Đáng chú ý, việc tài trợ cho các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn ở Việt
Vì vậy, Việt
Một lý do quan trọng của việc phải có chính sách hợp tác nhà nước tư nhân rõ ràng là ở chỗ thông qua đó có thể chuyển giao một phần rủi ro đáng kể cho tư nhân. Một số rủi ro như những thay đổi mang tính phân biệt đối xử trong luật pháp, rõ ràng sẽ được xử lý hiệu quả bởi nhà nước, do vậy cần bảo đảm để quá trình phân bổ rủi ro được diễn ra một cách thận trọng thay vì tìm cách đẩy mọi rủi ro cho tư nhân.
Bên cạnh đó, còn nhiều trì trệ trong quá trình thương thảo các dự án hạ tầng lớn do còn tồn tại nhiều cấp, ban ngành, thủ tục liên quan. Vì vậy, theo nhiều chuyên gia nước ngoài, Việt
Tuấn Lương