Kiểm toán: hỗ trợ tích cực DNNVV vay vốn

14:27:40 | 13/9/2010

Đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam, con đường tìm vốn từ trước tới nay gần như duy nhất là tìm đến các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, hầu như các DNNVV luôn có xu hướng “kêu” khó tiếp cận vốn ngân hàng. Có phải do các ngân hàng thương mại cửa quyền hay do các DNNVV chưa đủ điều kiện?

NH cửa quyền hay không?

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện Việt Nam có khoảng 450.000 DN thuộc các thành phần kinh tế, trong đó DNNVV chiếm khoảng 95%, DN siêu nhỏ chiếm 4%. Để phát triển và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, các DN luôn chăm lo việc nâng cao năng lực tài chính và cần những lượng vốn nhất định từ nhiều nguồn, tuy nhiên, kênh huy động vốn từ ngân hàng thường là kênh trực tiếp quan trọng và là tổ chức trung gian tạo điều kiện để các DNNVV tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi.

Theo PGS.TS Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam, trên thực tế, nợ xấu của ngân hàng đối với các khoản tín dụng của các DNNVV rất thấp, nhưng các DNNVV vẫn rất khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng ngân hàng. Nhiều ngân hàng rất dè dặt trong việc cho DNNVV vay vốn. Kết quả điều tra gần đây của Cục phát triển DNNVV ( Bộ kế hoạch và đầu tư) cho thấy, chỉ có 32,38% DNNVV có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn của ngân hàng, 35,25% khó tiếp cận, còn lại không thể tiếp cận.

Vậy có phải các ngân hàng cửa quyền hay không?

Theo TS. Nguyễn Đại Lai, câu trả lợi thực ra trước hết năm ở các DNNVV và các chính sách vĩ mô liên quan hơn là ở phía các “thủ tục rườm rà” của các tổ chức tín dụng. Thực tế lâu nay, dù có văn bản hay không thành văn bản thì các DNNVV của Việt Nam đều được các ngân hàng thương mại (NHTM) coi là “khách hàng truyền thống”, nhưng chỉ truyền thống về phương diện nhóm khách hàng, loại khách hàng chứ ít DNNVV nào trở thành khách hàng truyền thống với tư cách là một pháp nhân đích danh giữ được mối quan hệ lâu dài, chung thủy, có uy tín với NHTM cụ thể nào đó. Bản thân các DNNVV ngoài nỗi khổ vì “yếu, bé, nhẹ cân” còn bị cảnh cạnh tranh không đồng chất vì yếu thế về các quyền lợi tiếp cận tài nguyên như mặt bằng sản xuất, lao động, công nghệ, đào tạo, thị trường… so với các DNNN. Nếu không có các quy định chuẩn mực hóa thông qua hệ thống các tiêu chí hay các điều kiện, hay nói thẳng thắn là chuẩn mực về “tư cách” vay vốn ngân hàng cho sản xuất, kinh doanh thì tiếng “kêu” khó tiếp cận vốn ngân hàng của các DNNVV luôn mang tính “muôn thuở”. Đơn giản vì vốn ngân hàng trước hết là tài sản bằng tiền tạm thời nhàn rỗi của người dân và tổ chức, còn vốn tự có của ngân hàng dù vượt mức yêu cầu theo quy định của Basel 2 là trên 8% so với tài sản có, thì cũng chỉ là “muối bỏ bể” so với tổng nguồn vốn NHTM với tư cách là trung gian tài chính đi huy động từ các thành phần kinh tế để kinh doanh.

Bà Nguyễn Thị Hương Nga, Trưởng ban Tín dụng, Ngân hàng ANZ, cho biết thêm, để vay được vốn, các DN phải vượt qua được hàng rào chấm điểm tín dụng hết sức chặt chẽ, khắt khe. Một loạt các tiêu chí mà NH xem xét bao gồm: phương án kinh doanh có khả thi không, năng lực tài chính, khả năng trả nợ, dòng tiền luân chuyển, lỗ - lãi... Nếu tất cả những điều kiện trên không được báo cáo đầy đủ, chính xác và được thể hiện trong báo cáo tài chính thì DN khó có thể vay vốn ngân hàng được.

Báo cáo tài chính minh bạch: Điều kiện cần thiết để có thể vay được vốn NH

“Báo cáo kiểm toán có giá trị to lớn trong việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn cho các DNNVV”, đó là khẳng định của bà Lê Thị Hồng Len, Trưởng đại diện Văn phòng ACCA Việt Nam.

Còn theo bà Nga, để có thể tiếp cận được nguồn vốn NH, DN nên xây dựng một hệ thống kế toán có chuẩn mực, hoàn chỉnh, DN cần tính tới việc mời kiểm toán nội bộ tới tư vấn và xây dựng báo cáo kiểm toán. Đây là một trong số các điều kiện để NH cho vay.

PGS.TS Đặng Văn Thanh cũng cho rằng, DN cần phải nâng cao năng lực tài chính, kỹ năng hoạt động và khả năng quản lý. Để nâng cao năng lực tài chính, DN phải tạo lập một lượng vốn và tài sản đủ cho hoạt động kinh doanh và khả năng tiếp cận các nguồn vốn, trước hết và chủ yếu là các nguồn vốn tín dụng của ngân hàng. Muốn vậy, tài chính của DN phải lành mạnh, minh bạch, có độ tin cậy cao với ngân hàng, đảm bảo mọi khoản vốn và tài sản được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Hê thống kiểm soát nội bộ cần được tạo lập và duy trì có hiệu lực, hiệu quả. Hệ thống kiểm soát nội bộ là vòng kiểm soát trực tiếp, thứ nhất để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh. Vòng kiểm soát thứ 2 và thứ 3 là kiểm toán nội bộ và kiểm toán dịch vụ từ bên ngoài.

“Kiểm toán góp phần nâng cao độ tin cậy, tăng cường tính minh bạch của thông tin tài chính trên các báo cáo tài chính, chứng minh tính trung thực và đầy đủ của tình hình tài chính DN. Đây là yếu tố rất quan trọng để tăng độ tin cậy, tăng uy tín của DN, tạo lập và duy trì lòng tin đối với các tổ chức tín dụng và người cung cấp vốn đầu tư. Báo cáo tài chính được kiểm toán sẽ là căn cứ, là bản chứng minh về độ tin cậy của DN để NH quyết định cho vay vốn”, ông Thanh khẳng định.

Quỳnh Chi