Nợ công: tìm cách vay nhưng chưa nghĩ cách trả

09:06:19 | 27/9/2010

Để phát triển kinh tế, ngoài nguồn lực tài chính trong nước, Việt Nam rất cần đến các nguồn vốn vay nước ngoài. Tuy nhiên, quản lý các nguồn vốn vay đó ra sao, chi dùng như thế nào đang là điều mà các cơ quan chức năng cần tính đến, tránh tình trạng chỉ mới vay mà chưa tính đến cách nào để trả.


Hiện Việt Nam vẫn là quốc gia đang ở giai đoạn đầu của sự phát triển nên không thể phủ nhận phần đóng góp to lớn của các khoản vay nợ đối với chiến lược phát triển kinh tế. Tuy nhiên, theo phân tích của các chuyên gia kinh tế, dường như Việt Nam vẫn chưa thực sự quản lý tốt vấn đề nhạy cảm trên. Xét về mặt pháp lý, Luật Quản lý nợ công đã ra đời vào tháng 6/2009, còn trước đó Việt Nam chỉ có một số quy định của Chính phủ trong chiến lược phát triển tài chính 2005 - 2010 là nợ Chính phủ không được quá 50% GDP, còn lại vẫn dựa vào các khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, chẳng hạn nợ nước ngoài của quốc gia không được quá 50% GDP, nghĩa vụ trả nợ so với xuất khẩu không được quá 20%...

Đánh giá các khoản vay của Việt Nam, theo nhiều chuyên gia kinh tế cũng có một vài vấn đề cần xem xét lại. Cụ thể các khoản vay của Việt Nam chủ yếu ngoại tệ, nếu nhìn nhận ở một tương lai xa thì điều này có thể tạo ra nhiều rủi ro khi có sự biến động tỷ giá trên thị trường tiền tệ thế giới. Mặt khác, chính sự tác động trên cũng khiến cho Việt Nam khó có thể chủ động trong việc thanh toán các khoản nợ. Hiện hai nguồn vay lớn của Việt Nam là đồng đô la Mỹ và Yên Nhật, trong đó, theo cơ cấu các khoản vay chủ yếu là vay ODA (chiếm 74 %).

Các chuyên gia tài chính cho rằng, nền kinh tế của một quốc gia tìm viện trợ các khoản vốn vay quốc tế là điều bình thường, tất nhiên sẽ không tránh khỏi sự biến động thất thường về t giá đồng tiền, vì vậy, cách giảm thiểu tình trạng trên chỉ có thể là buộc nhà nước và doanh nghiệp cần có phương cách quản lý hiệu quả và hợp lý đồng vốn vay.

Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới hiện vẫn còn một số trở ngại trong việc cân đối nguồn vốn vay và cách thức thanh toán nguồn nợ đó. Hiện các cơ quan ban ngành khi trình chủ trương vay nợ nước ngoài, mới chỉ tính đến hiệu quả kinh tế xã hội, tìm cách để đáp ứng các yêu cầu đặt ra của tổ chức cho vay, chứ chưa tính đến việc vay bao nhiêu, số nợ lũy kế trong thời gian sau là bao nhiêu và khả năng thanh toán.

Thực tế, trong thời gian vừa qua, Chính phủ cũng đã thể hiện sự quyết tâm xây dựng những cột trụ trong nền kinh tế bằng cách đưa ra bàn thảo các siêu dự án có tầm chiến lược lâu dài như: dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam, dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, hoặc các dự án phát triển các ngành kinh tế chủ chốt của Việt Nam như dầu khí, điện, than, hệ thống cảng biển,... Song trên thực tế, khi luận bàn các chủ dự án mới chỉ tìm cách hợp lý hóa điều kiện để vay được nguồn vốn chứ chưa tính đến ngưỡng an toàn của số nợ trên. Bên cạnh đó, Việt Nam đã là nước có thu nhập trung bình, trong khi các khoản viện trợ ODA chỉ dành cho các nước có trình độ phát triển thấp, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn khi đi vay các nguồn vốn ODA ưu đãi mà phải vay với mức lãi suất cao hơn.

Ở tầm chiến lược lâu dài, vấn đề nợ công thực chất là một vấn đề toàn cầu hóa không chỉ dành riêng cho một quốc gia, hay một bộ ngành cụ thể nào. Các nước có tiềm lực kinh tế mạnh trên thế giới, trong tương lai cũng sẽ có các động thái tiền tệ nhằm thúc đẩy sự đi lên của các nền kinh tế mới nổi. Vấn đề đặt ra là việc quốc gia đón nhận và phân phối nguồn lực tài chính đó ra sao và làm cách nào để có lợi và thu hiệu quả nhất. Riêng ở Việt Nam, trong một thời gian dài, hầu hết các nguồn vốn viện trợ từ nước ngoài như ODA, FDI mới chỉ tính đến bài toán giải ngân chứ việc xem dòng tiền đó sinh sôi ra sao, từ đó tính đến việc trả nợ nguồn đã vay trước đó như thế nào? Thậm chí nhiều doanh nghiệp còn ỷ lại vào thời gian vay của các dự án ODA (thường rất dài), sau thời gian này mới tính đến việc trả nợ nên việc thu hồi vốn, tính đồng vốn lãi để trả nợ bị xem nhẹ. Mặt khác, trong cơ cấu phân bổ nguồn vốn vay, các cơ quan nhà nước cũng đã có sự ưu đãi cho một số tập đoàn kinh tế, buông lỏng việc quản lý… Tất cả những vấn đề trên cần được tính toán trên cơ sở lợi ích quốc gia, tránh làm ảnh hưởng xấu đến sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Anh Phương