Nhập khẩu nông sản cần hàng rào kỹ thuật

15:48:04 | 23/11/2010

Là một nước nhiệt đới nông nghiệp với bộ phận đông đảo nhất là nông dân, nông sản Việt Nam được ưa chuộng tại nhiều thị trường khó tính, nhưng có một nghịch lý là nhập khẩu nông sản cũng gia tăng mạnh, gây sức ép đối với sản xuất trong nước.

Với các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO, thuế quan đối với mặt hang nông sản được cắt giảm. Tuy nhiên thị trường này đang thiếu các công cụ quản lý khác để quản lý chất lượng nông sản nhập khẩu, hỗ trợ sản xuất trong nước.

Cơ chế thoáng nhập khẩu nông sản

Mỗi năm tổng kim ngạch xuất khẩu các loại mặt hàng nông sản cả nước thu về khoảng 14-16 tỷ USD, tuy nhiên Việt Nam vẫn là nước nhập siêu về nông sản. Mỗi năm ngành nông nghiệp phải bỏ ra một lượng ngoại tệ không nhỏ để nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp thiết yếu và nguyên liệu cho sản xuất nông nghiệp.

Từ đầu năm đến nay, nông sản nhập khẩu có xu hướng tăng nhanh gây quan ngại cho các nhà quản lý trong nước. Theo Bộ Công thương ngoài mặt hàng sữa, các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu để tiêu dùng khác đều là những mặt hàng không thiết yếu, không khuyến khích nhập khẩu, đặc biệt là mặt hàng thịt và sản phẩm đồ uống (rượu, bia, nước ngọt...), rau, quả, bánh kẹo... Bộ Công Thương đánh giá, trong số các mặt hàng nông sản nhập khẩu có nhiều mặt hàng thực phẩm được nhập về để tiêu dùng, nhưng lại là những mặt hàng mà Chính phủ không khuyến khích nhập khẩu, chẳng hạn như thịt, rau quả.

Ngoài lý do đời sống người dân được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng hoa quả, thực phẩm cao cấp gia tăng, thì thực tế cần nhìn thẳng vào là rau hoa quả của nước láng giềng Trung Quốc đang được nhập về ồ ạt, cạnh tranh quyết liệt với hàng trong nước. Mặt hàng rau, củ, quả, nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, chiếm khoảng 70% kim ngạch nhập khẩu rau quả, chủ yếu qua đường biên mậu. Điều này dễ nhận biết qua các chợ từ nhỏ đến lớn tại các thành phố, rau hoa quả Trung Quốc như cà rốt, cà chua, bắp cải, hành tây, khoai tây... mẫu mã đẹp bày bán tràn lan. Rất nhiều nông dân đã bỏ sản xuất các mặt hàng rau vụ đông vì không cạnh tranh nổi với rau quả Trung Quốc. Rau quả Trung Quốc đang có lợi thế trên thị trường Việt Nam, trước hết bởi giá cả và mẫu mã đẹp, ổn định. Ngưòi nông dân đang “thua trên sân nhà” khi sản xuất ra rau quả kém cạnh tranh hơn.

Sở dĩ, rau quả Trung Quốc ồ ạt xâm chiếm thị trường bởi giữ nhiều lợi thế. Theo cam kết khi tham gia Hiệp định khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA), hầu hết mặt hàng rau, quả tươi từ Trung Quốc nhập khẩu vào Việt Nam hiện được hưởng thuế suất thuế nhập khẩu 0%. Trong khi đó, rau củ quả tươi cũng là mặt hàng thuộc diện không phải chịu thuế giá trị gia tăng. Chính vì vậy, các nhà nhập khẩu đang tận dụng tối đa ưu đãi thuế quan để đưa hàng nông sản Trung Quốc vào Việt Nam. Hầu hết các lô hàng đều có C/O form E (giấy chứng minh xuất xứ) nên đương nhiên được hưởng thuế suất ưu đãi 0%.

Không những không chịu thuế nhập khẩu, rau quả ngoại nhập còn không bị quản chặt đối với chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Hàng nhập vào không cần giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, không cần kiểm tra dư lượng chất bảo quản, thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích... Hàng về tới cửa khẩu sẽ đăng ký với cơ quan kiểm dịch thực vật. Hồ sơ nhập khẩu gồm: tờ khai, hợp đồng mua - bán hàng hóa, bản kê số lượng, chủng loại, tờ khai trị giá lô hàng, C/O và giấy chứng nhận kiểm dịch. Hoàn toàn không có yêu cầu về giấy chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà xuất khẩu. Cơ chế thoáng như vậy, nên mặt hàng rau củ quả đang có mức tăng nhập khẩu chóng mặt.

Thiết lập hàng rào kỹ thuật

Theo ông Phạm Quang Diệu, Viện Chiến lược và Phát triển nông nghiệp nông thôn, hàng xuất khẩu của Việt Nam đang đứng trước một nghịch lý, luôn bị đe dọa bởi hàng rào phi thuế quan của các nước, nhưng ở trong nước lại có quá ít tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu và kiểm soát chất lượng hàng nhập vào Việt Nam. Với những mặt hàng có mức thuế 0%, Việt Nam hoàn toàn có thể thiết lập các hàng rào kỹ thuật để bảo vệ người tiêu dùng và bảo vệ sản xuất trong nước. Tại thị trường trong nước, hàng nông sản nhập khẩu hầu như không vấp phải hàng rào kỹ thuật nào, các cơ quan quản lý chưa đưa ra các tiêu chuẩn chất lượng, tiêu chuẩn kiểm nghiệm để quản lý chất lượng. Trong tình hình hàng nông sản nhập khẩu ồ ạt với giá rẻ, Việt Nam có thể áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại gồm chống bán phá giá, tự vệ, điều tra hành vi bảo hộ..., biện pháp điều tra chống bán phá giá là cần thiết và phù hợp nhất hiện nay. Điều tra chống bán phá giá với hàng nông sản tương đối khó khăn, mất nhiều thời gian nhưng cần phải làm. Ở góc độ quản lý, đây là trách nhiệm của Cục Quản lý cạnh tranh.

Mới đây Chính phủ cũng đã yêu cầu các bộ, ngành có giải pháp hạn chế tình trạng nhập khẩu thực phẩm, nông sản không cần thiết vào nội địa. Đồng thời yêu cầu Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Y tế sớm xây dựng những quy chuẩn kỹ thuật để làm cơ sở cho việc kiểm tra chất lượng, an toàn vệ sinh các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu, nhằm tạo điều kiện cho các sản phẩm nông nghiệp đảm bảo tiêu chuẩn trong nước, cạnh tranh được với nông sản ngoại

Nông sản trong nước phải mạnh lên

Phải thực tế nhìn nhận rằng nông sản nhập khẩu đang có lợi thế cạnh tranh, không bị tình trạng thu hoạch rộ phải hạ giá bán, chất lượng ngon, mẫu mã đẹp, giá rẻ. Trong khi đó, nông sản trong nước vẫn ở trong tình trạng sản xuất manh mún, tiêu thụ nhỏ lẻ và chưa thành hàng hóa. Dù Nhà nước đã có những chính sách để khuyến khích sản xuất nông sản theo hướng hàng hóa, giảm giá thành nhưng ở khâu thực hiện không đúng, kém hiệu quả nên người dân vẫn tự xoay xở trong canh tác. Tuy chất lượng nông sản Việt Nam tốt, có nhiều giống đặc sản, nhưng sản xuất bấp bênh, chất lượng không ổn định, chưa hình thành khâu phân phối hiệu quả, khiến hàng trong nước trở nên yếu thế.

Ở vùng sản xuất nông sản lớn là ĐBSCL đã hình thành nhiều mô hình nhà vườn sản xuất tập trung, xây dựng các thương hiệu nông sản uy tín, hướng tới xuất khẩu. Tại thị trường trong nước, khâu sản xuất và tiêu thụ bị tách rời nên giá bán trên thị trường rất cao mà người sản xuất lại không được hưởng lợi. Khâu phân phối hưởng phần lớn lợi nhuận nên người nông dân không mặn mà với sản xuất, và điệp khúc chặt phá, trồng lại cây mới, rồi tiếp tục chặt phá trồng lại vẫn chưa chấm dứt.

Dù có được bảo vệ tốt chăng nữa bằng các hàng rào kỹ thuật, nhưng nếu không tổ chức lại sản xuất trên quy mô và trình độ cao, tổ chức khâu phân phối hợp lý hơn, bao tiêu được sản phẩm cho nông dân với giá bán cạnh tranh trên thị trường thì nông sản Việt Nam sẽ bị hàng ngoại đẩy lùi trên sân nhà.

Thanh Nga