Doanh nhân Trương Tú Phương: “Không bao giờ là thất bại, tất cả chỉ là thử thách”

11:10:41 | 18/6/2019

Với đặc trưng “Làng trong KCN, KCN trong Làng”, doanh nhân Trương Tú Phương, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đại An - “Bà chủ của KCN không bao giờ đóng cổng” đã góp phần thay đổi diện mạo không chỉ nội tại KCN mà còn góp phần phát triển đồng bộ vùng phụ cận. Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc phỏng vấn doanh nhân Trương Tú Phương về hoạt động của Khu công nghiệp Đại An. Trần Trang thực hiện.

Bà đánh giá thế nào những kết quả nổi bật trên các mặt hoạt động của Khu công nghiệp Đại An, đặc biệt sự kiện 15 năm thành lập KCN Đại An vừa qua (tháng 1/2019)?

KCN Đại An thành lập ngày 24/3/2003 với quy mô 603ha tại tỉnh Hải Dương, cách thủ đô Hà Nội 51km, cảng Hải Phòng 51km. Qua 15 năm đầu tư, phát triển và vận hành đến nay, KCN Đại An đã thu hút 87 dự án với số vốn 1,8 tỷ USD vốn FDI đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp điện tử, công nghiệp nhẹ, và công nghệ kỹ thuật cao, trong đó có 80 dự án FDI đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ. 

15 năm qua, KCN Đại An đã có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu; qua đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương. Năm 2006, bình quân 01ha đất cho thuê tạo ra giá trị sản xuất công nghiệp 2 triệu USD/ha và tạo việc làm cho 70 lao động trực tiếp thì đến năm 2018, bình quân 01ha đất cho thuê tạo giá trị sản xuất công nghiệp 7,7 triệu USD/ha; sản xuất công nghệ cao 25 triệu USD/ha và tạo việc làm cho 100 lao động/ha. Các doanh nghiệp trong KCN nộp ngân sách 800 - 900 tỷ đồng/năm. Một trong những dự án công nghệ cao tiêu biểu là của Công ty TNHH Kefico (Hàn Quốc) với số vốn đăng ký 250 triệu USD. Đây là doanh nghiệp có tổ chức Đảng đầu tiên trong KCN.

KCN Đại An đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hóa hệ thống hạ tầng trong khu vực nông thôn xung quanh. Đến tháng 12/2018, Công ty đã đầu tư 1.857 tỷ đồng đầu tư kết cấu hạ tầng cho 400ha được giao; trong đó riêng phần hỗ trợ nâng cấp đường giao thông nông thôn và điện chiếu sáng cho 6 thôn và 3 xã trong KCN khoảng 18 tỷ đồng. KCN Đại An cũng góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ người lao động: Nếu như từ 2004 - 2008 chỉ có 9.500 công nhân mức lương trung bình 4.500.000 đồng/tháng thì năm 2018 đã có 38.000 lao động với mức lương 7.000.000 đồng/tháng. Đời sống kinh tế của người dân được nâng cao rõ rệt. Bám sát chủ trương “Ly nông bất ly hương” của Đảng và Chính phủ, KCN Đại An đã chuyển đổi một vùng quê nghèo thuần nông trở thành một đô thị công nghiệp phục vụ dịch vụ công nghiệp. Không chỉ vậy, với đặc trưng “Làng trong KCN, KCN trong làng”, KCN Đại An còn góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái cho nhân dân xung quanh, coi đây là sự tồn tại của KCN. Vì vậy, từ năm 2007, chúng tôi đã xây dựng hệ thống Nhà máy xử lý nước thải, công suất 2.000m3/ngày đêm. Đến năm 2017 tiếp tục xây dựng Nhà máy xử lý nước thải số 2, công suất 5.000m3/ngày đêm với công nghệ hiện đại nhất hiện nay. Đại An luôn được đánh giá là một KCN có môi trường xanh, sạch và thực hiện hài hòa mục tiêu thu hút đầu tư với việc giải quyết vấn đề môi trường.

Bên cạnh đó là việc xây dựng các mô hình tự quản về an ninh trật tự nhằm đảm bảo an toàn cho mỗi người lao động, an toàn cho mỗi doanh nghiệp và an toàn cho KCN. Với nỗ lực của mình, năm 2012, Đại An đã vinh dự được Giám đốc Công an Hải Dương đề nghị Bộ Công an lựa chọn để làm mô hình điểm của cả nước về xây dựng “KCN an toàn về an ninh trật tự”. Mô hình này đã thành công tại KCN Đại An và đã nhận được Bằng khen và Cờ thi đua của Bộ Công an liên tục các năm: 2012, 2015, 2017, 2018.

KCN Đại An không những thành công trong việc tạo ra một môi trường đầu tư tương đối hoàn chỉnh, có khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ hiện đại, ít công nhân, không gây ô nhiễm mà còn hoàn thành được vai trò xây dựng và cải thiện môi trường địa phương từ văn hóa nông nghiệp sang văn hóa công nghiệp; là nền tảng tạo ra thế hệ công dân, công nhân “tốt”: có việc làm, văn hóa, đạo đức và trách nhiệm với cộng đồng.

Để giữ vững vị trí là một trong những Công ty tiên phong phát triển KCN tại Việt Nam, Đại An đã và đang thực hiện giải pháp cụ thể nào, thưa bà?

Tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khăn vướng mắc, xây dựng chiến lược của Công ty trong thời kỳ mới, phù hợp với định hướng của Chính phủ “Đổi mới sáng tạo, trên nền tảng 4.0 có chất lượng cao hơn và phát triển kinh tế tư nhân”. Cụ thể:

Một là: Chuẩn bị đội ngũ kế cận có trình độ bởi thu hút đầu tư FDI 4.0 cần có con người Việt Nam đổi mới, sáng tạo, tâm huyết, có năng lực, có trình độ của 4.0 trong thu hút đầu tư, có chất lượng cao.

Hài là: Để duy trì và phát triển KCN bền vững sẽ có lực lượng công nhân khoảng 60.000 người và dịch vụ phục vụ khoảng 30.000 người. Năm 2011, Đại An đã chuẩn bị 01 quỹ đất được Chính phủ và tỉnh Hải Dương cho phép làm chủ đầu tư một khu dân cư để đầu tư xây dựng các công trình xã hội và nhà ở công nhân nhằm chăm lo đời sống cho người lao động. Do nguồn vốn có hạn và chưa có nhiều kinh nghiệm quản lý, vận hành Khu Đô thị-Dịch vụ-Công nghiệp có tầm cỡ trong khu vực, Đại An đã hợp tác đầu tư với tập đoàn Fujita (Nhật Bản) với số vốn 3.000 tỷ đồng. Đây là nguồn vốn để xây dựng hạ tầng kỹ thuật nhà ở cho công nhân, các công trình tiện ích cho KCN, đầu tư xây dựng một hệ thống giáo dục liên cấp từ mẫu giáo-cấp II và định hướng các cháu đang học đào tạo nghề để phục vụ nguồn lao động có tay nghề cho KCN.

Ba là: Chuẩn bị quỹ đất để các doanh nghiệp trong KCN mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Tập trung ưu tiên thu hút đầu tư các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, các doanh nghiệp công nghệ cao, có trách nhiệm với cộng đồng; tuân thủ các quy định chung của pháp luật.

Xin bà chia sẻ cụ thể hơn về hướng phát triển “Làng trong KCN, KCN trong Làng” của Đại An? Điều này mang lại ý nghĩa như thế nào đối với các nhà đầu tư thứ cấp khi lựa chọn KCN Đại An là điểm đến hoạt động sản xuất kinh doanh?

Khái niệm KCN của 15 năm trước là quá mơ hồ và xa lạ đối với người dân địa phương khi sản xuất nông nghiệp vẫn là nguồn thu nhập chính. Thông qua sự chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp chính quyền, Ban quản lý các KCN và các Sở ban ngành tỉnh Hải Dương, chúng tôi đã thành công trong việc giải quyết hài hoà quyền lợi cho người nông dân. Với lời hứa không để người dân vùng dự án “Ly nông phải ly hương”, và cam kết tạo nên vòng xoay mới cho cuộc sống người dân vùng dự án, chúng tôi đã điều chỉnh thiết kế quy hoạch KCN Đại An khác với các KCN khác đó là: “Làng trong KCN, KCN trong làng” hay còn gọi là KCN Đại An là KCN không bao giờ đóng cổng, là KCN đầu tiên người dân được sử dụng chung hệ thống hạ tầng kỹ thuật: giao thông, cấp nước, thoát nước, điện chiếu sáng, và áp dụng mô hình tận dụng nguồn lao động có sẵn của địa phương để cung cấp nguồn nhân lực cho các nhà máy trong vùng dự án, cũng như định hướng, động viên các làng dân cư hiện hữu phát triển thành các xóm có phòng trọ cho người lao động nhập cư. Ngoài ra chúng tôi thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Công An tỉnh Hải Dương và BQL các KCN về việc tuyên truyền, giáo dục, và đào tạo “an ninh, an toàn, trật tự trong KCN”.

Xin nhấn mạnh: Một nhà đầu tư phải hài lòng khi đặt dự án tại đây thì mới giúp thu hút thêm nhiều nhà đầu tư thứ cấp khác được. Trong kinh doanh, luôn luôn lấy đạo đức làm nền tảng, đặt quyền lợi của nhân dân giao đất làm KCN, người lao động lên trên quyền lợi của doanh nghiệp và luôn lắng nghe các ý kiến đóng góp của các doanh nghiệp để tự hoàn chỉnh với tư cách là NHÀ ĐẦU TƯ hạ tầng. Luôn có trách nhiệm cao, chia sẽ với cộng đồng doanh nghiệp đã đến đầu tư tại KCN Đại An và được các doanh nghiệp thật sự tin tưởng.

Có điều gì đặc biệt ở những phụ nữ khi làm doanh nghiệp, thưa bà? Để sáng tạo, bứt phá trong thời đại toàn cầu hóa, doanh nhân nữ cần thể hiện bằng hành động cụ thể nào?

Tôi sinh ra tại Hà Nội, quốc tịch Việt Nam, đã có thâm niên 23 năm làm viên chức Nhà nước (năm 1978 - 2000), một khoảng thời gian thách thức cho bất cứ sự thay đổi nào. Song nhìn chặng đường đi qua thì đúng là không gì là không thể. Đến nay, cả nước có 356 KCN và tôi vẫn là một trong 3 doanh nhân nữ trong lĩnh vực tưởng như chỉ dành cho những người đàn ông. Tôi đã áp dụng xây dựng mô hình KCN Đại An là: “Đô thị- Dịch vụ- Công nghiệp” thay vì thứ tự trong đầu tư tại Việt Nam là “Công nghiệp - Đô thị - Dịch vụ”. Để biến tầm nhìn thành hiện thực, tôi đã nghiên cứu rất nhiều về văn hóa- xã hội - đời sống địa phương cũng như các mô hình hội nhập quốc tế. Tôi luôn nghĩ rằng khi đã đầu tư ở địa phương nào thì cần phải gắn bó lâu dài, cần phải kết hợp lợi ích của doanh nghiệp mình và địa phương với người dân như thế thì mới có thể gọi là thành tựu trong sự nghiệp phục vụ đất nước.

Doanh nhân Trương Tú Phương có hai điều tâm đắc. Một là, nhìn thấy người dân “ly nông bất ly hương” trong các vùng dự án của Công ty cổ phần Đại An. Hai là nhìn thấy cơ hội để doanh nghiệp tư nhân lớn mạnh hơn đang rộng mở.

Tư duy cố hữu của nền kinh tế nông nghiệp ăn sâu theo gốc rễ và được xem như văn hóa truyền thống ngàn đời, chẳng có gì có thể cải cách nếu không có đột phá. Vì vậy “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” là phương thức duy nhất để cải tổ và thay đổi nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp. Để định hướng, mục tiêu kinh tế - quốc tế thì phải: Phải chấp nhận thử thách. Phải có động lực và đam mê. Phải hòa nhập với môi trường văn hóa đa dạng đến từ các quốc gia trên thế giới.

Tôi có thể tự tin khẳng định rằng bất kỳ người phụ nữ nào trên thế giới này đều có khả năng bứt phá giới hạn của mình để trở thành lãnh đạo và thành công theo cách riêng của mình. “Nếu: Luôn đặt ra mục tiêu cao hơn bình thường và cố gắng hết sức thực hiện những ý tưởng, mục tiêu, kế hoạch. Biết biến mình phù hợp với công việc. Biết nắm bắt thời gian và cơ hội. Luôn luôn kiên định phương châm: “Không bao giờ là thất bại, tất cả chỉ là thử thách”. Kết quả là không có gì hành phúc khi được HỘI NHẬP QUỐC TẾ ngay trên đất nước của mình.

Trân trọng cảm ơn bà!