Tái cấu trúc nền kinh tế: Từ góc nhìn thị trường

15:25:34 | 28/12/2010

Chắc chắn, tái cấu trúc nền kinh tế là một vấn đề cực kỳ quan trọng và đặc biệt phức tạp. Bởi lẽ, hiểu một cách đơn giản nhất, tái cấu trúc nền kinh tế sau chặng đường dài 25 năm đổi mới có nghĩa là “chỉnh sửa” các bộ phận hợp thành nền kinh tế để có thể phát triển tốt hơn trong bối cảnh kinh tế thế giới chắc chắn sẽ tiếp tục có nhiều biến động.

Do vậy, nó quan trọng ở chỗ sẽ quyết định tương lai phát triển của đất nước, còn sự phức tạp của nó bắt nguồn từ việc bản thân nền kinh tế là một “cơ thể sống” hết sức phức tạp, đang được vận hành bởi hàng chục triệu con người phải tiến hành “chỉnh sửa”, mà trong đó, tất yếu phải “cắt bỏ” những “tế bào”, những bộ phận thừa, hoặc hoạt động kém hiệu quả, phát triển mạnh những “tế bào”, những bộ phận có hiệu quả, đồng thời lắp dựng thêm những bộ phận còn thiếu, những bộ phận có tương lai phát triển...

Theo đó, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, tức là nhu cầu của thị trường chính là xuất phát điểm, là nguồn động lực để phát triển sản xuất, cho nên thị trường cũng là một “góc nhìn” có thể thấy được thực trạng của “cơ thể sống” đó và cũng từ những dự báo về triển vọng phát triển của thị trường, cũng có thể nhận thấy hướng chỉnh sửa “cơ thể sống” đó.

Theo hướng tiếp cận này, có thể thấy, cơ cấu của nền kinh tế nước ta sau 25 năm đổi mới đang tồn tại bất cập chủ yếu. Tuy đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao thuộc loại hàng đầu trong khu vực và thế giới là thành tựu rất to lớn và rất quan trọng, nhưng để đạt được điều đó, chúng ta đã phải mở rộng thị trường đầu ra quá nhanh, cho nên thị trường sẽ trở thành rào cản khiến mục tiêu tiếp tục phát triển nhanh khó có cơ trở thành hiện thực. Đây chính là một thách thức gần như vượt qua trong chặng đường phát triển sắp tới.

Thực tiễn 9 năm gần đây của nền kinh tế nước ta cho thấy, để đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,27%/năm, thì xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ (sau đây gọi tắt là xuất khẩu) phải tăng 15,51%/năm, cao gấp 2,13 lần, còn thị trường bán lẻ hàng hoá và dịch vụ (sau đây gọi tắt là thị trường trong nước) phải tăng 17,59%/năm, cao gấp 2,42 lần. Hơn thế, trong năm 2010, trong khi nhịp độ tăng trưởng kinh tế còn thấp hơn, nhưng hai đầu ra đã phải tăng cao hơn nhiều, cho nên tính bình quân cả thập kỷ, nhịp độ tăng trưởng kinh tế giảm xuống chỉ còn khoảng 7,27%/năm, còn xuất khẩu thì tăng 16,32%/năm, cao gấp 2,27 lần và thị trường trong nước tăng 17,41%/năm, cao gấp 2,42 lần. Như vậy, tính chung lại, hai đầu ra chủ yếu của nền kinh tế trong thập kỷ này tăng bình quân 16,85%/năm, cao gấp 2,34 lần nhịp độ tăng trưởng kinh tế.

Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, nhịp độ phát triển các thị trường đầu ra như vậy là quá nhanh so với nhịp độ phát triển kinh tế, cho nên quy mô các thị trường này đã quá lớn. Nói cách khác, hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển của thương mại nước ta cho đến nay vẫn rất thấp.

Bởi lẽ, nếu như không nâng được hiệu quả, tức là vẫn với hệ số 2,27 lần như nói trên, để đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,5%/năm trong thập kỷ tới và “rổ GDP” của nước ta sẽ được mở rộng lên hơn gấp đôi, đạt trên 200 tỷ USD, thì xuất khẩu phải đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân trên 17%/năm và “rổ hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu” sẽ phải đạt con số khổng lồ 375 tỷ USD vào năm 2020, lớn gấp 1,85 “rổ GDP”. Hơn thế, cũng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế đó, nhưng với hệ số 2,42 lần, thị trường trong nước phải tăng bình quân trên 18%/năm, cho nên “rổ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng” vào cuối thập kỷ tới sẽ phải đạt quy mô 411 tỷ USD, lớn gấp 2,03 lần quy mô GDP.

Trong đó, nếu như nhịp độ tăng và quy mô xuất khẩu như vậy tuy vẫn là có thể, nhưng cũng rất khó đạt được. Nói có thể là bởi lẽ, 375 tỷ USD vẫn là con số rất nhỏ so với “rổ hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu” của thế giới. Nói rất khó đạt được là bởi lẽ, lịch sử thương mại thế giới cho thấy, chỉ có những quốc gia và vùng lãnh thổ “đắc địa” chỉ có thể “đếm trên đầu ngón tay” của thế giới lấy xuất khẩu làm trụ cột để phát triển như Hồng Kông và Singapore ở châu Á, hoặc Luxembourg ở trung tâm châu Âu... sau rất nhiều thập kỷ phát triển mới có độ mở của nền kinh tế ở đầu ra xuất khẩu so với GDP vượt qua con số 167% (Luxembourg), thậm chí đạt 220% (Singapore), còn Malaysia sau nửa thế kỷ đẩy mạnh xuất khẩu thì con số này cũng chỉ dừng lại ở mức 123%.

Thế nhưng, việc thị trường trong nước phải tiếp tục đạt nhịp độ tăng trưởng trên 18%/năm để đạt tới quy mô 411 tỷ USD vào năm 2020 chắc chắn là điều thậm phi lý, bởi nó quá lớn so với GDP.

Cơ cấu của nền kinh tế cũng bất hợp lý ở chỗ, nó quy định nhịp độ tăng trưởng nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ quá nhanh (sau đây gọi tắt là nhập khẩu), dẫn đến hệ quả “kép”: nhập siêu quá lớn và là tác nhân trực tiếp dẫn đến hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển của thương mại thấp.

Trước hết, như các số liệu thống kê cho thấy, trong 9 năm gần đây cho thấy, để đạt được nhịp độ tăng trưởng kinh tế như nói trên, nhập khẩu phải tăng bình quân 17,53%/năm, cao gấp 2,41 lần nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Với ước tăng của nhập khẩu trên 18% trong năm nay, hai con số bình quân của cả thập kỷ hiện nay sẽ là 17,59%/năm và 2,44 lần.

Tương tự như trên, nếu “tập quán” này không thay đổi, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7,5%/năm, nhập khẩu sẽ phải tăng 18,3%/năm và “rổ hàng hoá nhập khẩu” vào năm 2020 sẽ lên tới con số khổng lồ trên 488 tỷ USD, cho nên lớn gấp 2,42 lần “rổ GDP” và quy mô nhập siêu sẽ lên tới 114 tỷ USD, còn tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu lên tới 30,4% và so với GDP lên tới 56,4%.

Rõ ràng, đó cũng là viễn cảnh không thể chấp nhận được, cho nên buộc sẽ phải thay đổi.

Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, cơ cấu của nền kinh tế nước ta đang rất bất hợp lý, bởi nó quy định nhịp độ phát triển cả thị trường đầu ra lẫn thị trường đầu vào quá nhanh, cho nên mục tiêu mang tầm chiến lược của tái cơ cấu nền kinh tế chính là, chỉnh sửa lại cơ cấu đó sao cho nhịp độ phát triển các thị trường này chậm lại, nhưng vẫn bảo đảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh như mong muốn, tức là nâng cao đáng kể hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển của thương mại.

Trong khi đó, nếu nhìn vào “rổ hàng hoá nhập khẩu”, tưởng chừng quan điểm “ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất” cho đến nay là có lý, bởi bình quân chín năm gần đây tăng lên 92,23% (thập kỷ 90 chiếm 89,19%), nhưng với tỷ trọng 64,45% (thập kỷ 90 là 60,54%), thực chất là ưu tiên quá lớn để nhập khẩu nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu. Trong đó, ngoài những nguyên liệu chủ yếu và nhiên liệu mà công nghiệp trong nước chưa đáp ứng được, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng tăng tốc bắt nguồn từ việc ồ ạt nhập khẩu hàng loạt các sản phẩm trung gian, các linh kiện, bộ phận sản phẩm phục vụ gia công, lắp ráp.

Do vậy, tình trạng hàng loạt các sản phẩm xuất khẩu và tiêu dùng trong nước tuy “vỏ” được ghi danh “Made in Vietnam”, nhưng trong “ruột” thực chất là “ASEAN + 3” chính là nguyên nhân chủ yếu khiến cho nhịp độ phát triển các thị trường đầu ra quá nhanh và quy mô quá lớn như nói trên, nhưng hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển thấp.

Bên cạnh đó, trong “rổ hàng hoá xuất khẩu” của nước ta hiện vẫn còn không ít những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu có tên tuổi trên thị trường thế giới là những sản phẩm của công nghiệp khai thác khoáng sản, điển hình như than đá và nông nghiệp khai thác tài nguyên đất đai, điển hình là cao su, cà phê. Đây cũng là tác nhân quan trọng khiến cho nhịp độ phát triển các thị trường đầu ra quá nhanh và quy mô quá lớn như nói trên, nhưng hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển thấp.

Tất cả những điều nói trên cho thấy rằng, trong chặng đường dài phát triển sắp tới, cần nỗ lực vượt bậc để từng bước giảm hệ số giữa nhịp độ phát triển thị trường và nhịp độ tăng trưởng kinh tế, tức là với nhịp độ phát triển thị trường thấp hơn, nhưng vẫn bảo đảm được nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn, cũng tức là nâng cao hiệu quả thúc đẩy kinh tế phát triển của thương mại.

Rõ ràng, để đạt được điều đó, đồng thời với việc tập trung phát triển nhanh một số ngành công nghiệp nguyên liệu cơ bản trong những năm gần đây, cần chú trọng chỉnh sửa cơ cấu kinh tế của nước ta theo ba hướng. Cần đầu tư mạnh mẽ cho nông nghiệp tạo ra những bước ngoặt về năng suất và chất lượng để phát triển nhanh một số loại cây trồng mà nước ta có tiềm năng và lợi thế, thí dụ như bông, ngô, đậu tương... nhằm giành lại thị trường trong nước tiêu thụ đã phát triển mạnh trong những năm qua, nhưng đang ngày càng bị hàng nhập khẩu lấn lướt. Đây là hướng phát triển không chỉ quan trọng về kinh tế, mà còn đặc biệt quan trọng về xã hội, bởi tỷ trọng dân cư và lao động nông nghiệp của nước ta cho đến cuối thập kỷ tới vẫn còn quá lớn. Đồng thời phát triển nhanh các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp trung gian để từng bước khắc phục tình trạng “vỏ ta, ruột ASEAN + 3” đang ngày càng trở nên phổ biến trong các sản phẩm phục vụ xuất khẩu cũng như tiêu dùng trong nước hiện nay. Tập trung đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp chế biến các nguyên liệu thô chúng ta đã xuất khẩu trên quy mô lớn trong nhiều năm qua.

Có thể nói, ba hướng phát triển nói trên tuy khác nhau, nhưng điểm chung và đồng thời cũng là mục tiêu duy nhất mà chúng ta hướng tới là nâng cao giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm “Made in Vietnam”, và do vậy, cũng nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, trong khi nhịp độ phát triển thị trường có thể chậm lại, và nhờ vậy, có thể hy vọng chuyển sang xuất siêu sau 60 năm nhập siêu vào cuối thập kỷ tới.

Nguyễn Đình Bích