Vĩnh Phúc: Thu hút đầu tư gắn với bảo vệ môi trường

9:28:18 AM | 21/8/2020

Những năm qua, bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy công nghiệp phát triển, công tác bảo vệ môi trường (BVMT) được tỉnh Vĩnh Phúc xác định là nhiệm vụ trọng tâm để phát triển bền vững. Theo đó, Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết liên quan đến việc tăng cường công tác BVMT trong các khu, cụm công nghiệp và làng nghề. Đồng thời, chú trọng lựa chọn, ưu tiên thu hút các dự án sử dụng công nghệ sạch, hiện đại và thân thiện với môi trường.

Theo thống kê, tổng lượng nước thải tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc phát sinh khoảng 9.800 m3/ngày đêm. Nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất, vệ sinh công nghiệp, sinh hoạt của công nhân đa dạng về thành phần và mang nhiều tính chất phức tạp. Về chất thải rắn, có khoảng 165.000 tấn/năm, chủ yếu tồn tại ở dạng rắn, lỏng bao gồm các sản phẩm thải loại, bao bì, giấy, vải vụn, sỉ than, giẻ lau dính dầu, cặn dầu thải, hộp sơn, đèn huỳnh quang, bùn thải… Để xử lý chất thải, nước thải nhằm BVMT tại các KCN, trong quá trình triển khai xây dựng KCN, các chủ đầu tư đã chấp hành tốt quy định về xả thải và xử lý nguồn chất thải có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, dành phần đất để trồng cây xanh, mặt nước. Các chủ đầu tư KCN đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường và xác nhận cam kết BVMT; đăng ký chủ nguồn thải, khai thác mặt nước để sử dụng trong sản xuất, thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, một số doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác BVMT; nhiều doanh nghiệp còn thuê lại mặt bằng, nhà xưởng sản xuất nên việc đầu tư, cải tạo hệ thống xử lý nước thải, thu gom rác thải chưa đồng bộ, hợp lý làm phát sinh các vấn đề, sự vụ tranh chấp về môi trường…

Để giải quyết vấn đề này, Vĩnh Phúc đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, kế hoạch và các quyết định liên quan đến việc tăng cường công tác BVMT trong các khu, cụm công nghiệp và làng nghề như: Nghị quyết số 02-NQ/TU của BTV Tỉnh ủy về tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài nguyên trên địa bàn tỉnh đến năm 2015, định hướng đến năm 2020; Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2012-2020; Đề án tổng thể bảo vệ môi trường tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2020; triển khai Luật Bảo vệ môi trường… Nhờ đó, công tác BVMT tại các KCN đã có những chuyển biến tích cực, hạn chế tối đa tác hại từ sản xuất công nghiệp ảnh hưởng đến người lao động, môi trường sống và đảm bảo phát triển bền vững.

Theo Ban Quản lý các KCN Vĩnh Phúc, tỷ lệ đấu nối hệ thống xử lý nước thải của các dự án SXKD trong các KCN hiện đạt trên 90% (5/9 KCN có hệ thống xử lý nước thải tập trung hoạt động và đã lắp đặt trạm quan trắc tự động; 2/9 KCN đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải nhưng chưa hoạt động). Chất lượng nước thải sau xử lý tại các KCN từng bước được cải thiện và cơ bản đảm bảo quy chuẩn cho phép trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Chất thải rắn công nghiệp được các đơn vị thu gom, phân loại tại cơ sở, một phần được tái sử dụng, phần còn lại được hợp đồng với các đơn vị có chức năng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải. Hầu hết các cơ sở phát sinh khí thải trong các KCN đã lắp đặt hệ thống xử lý khí thải, thực hiện kiểm soát, quan trắc theo quy định.

Bên cạnh việc đầu tư xây dựng hoàn thiện hạ tầng thiết yếu BVMT cho các khu, cụm công nghiệp và làng nghề, tỉnh Vĩnh Phúc đã thực hiện nghiêm, chặt chẽ các quy định về BVMT trong chấp thuận chủ trương đầu tư đối với các dự án; chú trọng lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu tư các dự án sử dụng công nghệ sạch, hiện đại và thân thiện với môi trường. Không chấp thuận các dự án đầu tư sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng; kiên quyết không cho phép hoạt động đối với các cơ sở SXKD không đáp ứng đủ yêu cầu BVMT theo quy định.

Cùng với đó, tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nguồn gây ô nhiễm môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT; thực hiện nghiêm công tác hậu kiểm sau phê duyệt hồ sơ môi trường đối với các dự án để phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời, đặc biệt là hoạt động xả thải của cơ sở, doanh nghiệp, ngành nghề sản xuất có nguồn thải lớn, nguy cơ gây ô nhiễm cao. Đồng thời, xây dựng cơ sở dữ liệu về môi trường toàn tỉnh, kiểm kê phát thải khí thải nhà kính; thành lập và số hóa cơ sở dữ liệu về BVMT tỉnh để thống nhất sử dụng chung cho các cấp, các ngành.

Thanh Loan (Vietnam Business Forum)