09:39:59 | 23/10/2023
Theo “Khảo sát doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam năm 2022” do Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) thực hiện, 74% doanh nghiệp được hỏi cho rằng giai đoạn hấp dẫn nhất tại Việt Nam là “tiềm năng tăng trưởng thị trường”, cao hơn 17 điểm phần trăm so với mức trung bình 57% tại ASEAN. Ông Takeo Nakajima, Trưởng đại diện JETRO tại Hà Nội kiêm Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho biết.
![]() |
Ông đánh giá thế nào về hợp tác thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Nhật Bản trong thập kỷ qua?
Về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Vốn FDI (không bao gồm vốn đầu tư cổ phần và mua cổ phần) vào Việt Nam dao động trong khoảng 20 - 30 tỷ USD/năm trong thập kỷ qua. Con số này bằng vài phần trăm GDP của Việt Nam, cho thấy tầm quan trọng của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam. Nhật Bản chiếm khoảng 15% FDI vào Việt Nam, đứng thứ ba về giá trị và thứ hai về số lượng dự án.
Những dự án đầu tư của Nhật Bản quan trọng nhất đã được phê duyệt trong 10 năm gần đây bao gồm: Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn số 2, Nhà máy nhiệt điện Vân Phong số 1, Dự án khí Lô B - Ô Môn, dự án Thành phố thông minh phía Bắc Hà Nội.
Những dự án nổi bật gần đây bao gồm: Nhà máy điện khí LNG được cấp phép năm 2022 (do Marubeni và Tokyo Gas đầu tư), AEON Mall Hue và dự án nhà máy nước giải khát Suntory-PepsiCo được cấp phép năm 2023.
Nhiều ngành công nghiệp khác nhau đã đóng góp vào xây dựng nền tảng kinh tế và khả năng cạnh tranh quốc tế của Việt Nam.
Về thương mại
Thương mại giữa Nhật Bản và Việt Nam đã tăng gần gấp đôi trong thập kỷ qua. Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ tư của Việt Nam và Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ chín của Nhật Bản. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt khoảng 20 tỷ USD và giá trị nhập khẩu từ Nhật Bản cũng rơi vào khoảng 20 tỷ USD.
Việt Nam nhập khẩu linh kiện, phụ tùng từ Nhật Bản và xuất khẩu thành phẩm hoặc bán thành phẩm sang Nhật Bản, cho thấy hai nền kinh tế bổ sung cho nhau. Điển hình là các sản phẩm như máy móc, thiết bị điện và điện tử, hàng may mặc và giày dép.
Sản phẩm nông nghiệp và thủy sản cũng là những mặt hàng thương mại quan trọng. Đối với Nhật Bản, Việt Nam là thị trường xuất khẩu thực phẩm đứng thứ năm. Hiện nay, nhiều sản phẩm trái cây, hải sản của Việt Nam đã có mặt tại Nhật Bản. Sữa bột và đồ hộp Nhật Bản cũng được ưa chuộng ở Việt Nam.
JETRO thường xuyên tổ chức nhiều sự kiện doanh nghiệp, kinh doanh khác nhau để giới thiệu các sản phẩm ưu việt của Nhật Bản tới tầng lớp trung lưu đang ngày càng tăng của Việt Nam.
Ông đánh giá như thế nào về môi trường kinh doanh tại Việt Nam? Doanh nghiệp Nhật Bản gặp những thuận lợi, thách thức gì khi hoạt động tại Việt Nam?
Về thuận lợi và sự hấp dẫn
Theo “Khảo sát doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam năm 2022” do JETRO thực hiện, 74% doanh nghiệp được hỏi cho rằng giai đoạn hấp dẫn nhất tại Việt Nam là “tiềm năng tăng trưởng thị trường”, cao hơn 17 điểm phần trăm so với mức trung bình 57% tại ASEAN.
"Thị trường" có nghĩa là thị trường tiêu dùng nói chung, giao dịch B2B, phát triển cơ sở hạ tầng và các dự án khác của Chính phủ. Các doanh nghiệp Nhật Bản đặt kỳ vọng cao vào thị trường với 100 triệu dân, sự có mặt của nhiều doanh nghiệp nước ngoài và việc đầu tư hạ tầng với tiềm năng tăng trưởng to lớn.
Các điểm hấp dẫn khác mà các doanh nghiệp trong cuộc khảo sát cho biết, bao gồm “quy mô thị trường hiện tại”, “môi trường sống cho người nước ngoài” và “tuyển dụng nguồn nhân lực mà công ty đang tìm kiếm”.
Khó khăn và thách thức
Theo khảo sát, “Thủ tục hành chính (giấy phép, giấy chứng nhận) không hiệu quả” là vấn đề phổ biến nhất với 66% doanh nghiệp khảo sát nêu ra, tiếp đến là “Thuế và thủ tục thuế không hiệu quả” (58%) và “Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ” (55%) cho điều kiện đầu tư. Tất cả những điều này đều liên quan đến công tác điều hành và pháp luật. Tại Thái Lan, “Điều kiện chính trị và xã hội”, còn tại Singapore và Malaysia, “Chi phí lao động cao” là những vấn đề quan trọng nhất, hầu như không có vấn đề hành chính nào được nêu ra.
Về những thách thức hoạt động hàng ngày của các doanh nghiệp Nhật Bản, “lương nhân viên tăng” (75%), tiếp theo là “chi phí mua sắm tăng” (66%) và “biến động tỷ giá hối đoái” (63%) là những thách thức được nêu ra nhiều nhất.
Nói cách khác, những thách thức lớn tại Việt Nam là (1) hoạt động hành chính không ổn định và (2) chi phí hàng ngày tăng lên.
Một số vấn đề có thể được cải thiện hoặc loại bỏ, phụ thuộc vào nỗ lực của Chính phủ và doanh nghiệp, dù một số vấn đề khác không thể được giải quyết hoặc loại bỏ. Ví dụ, chi phí lao động tăng lên và biến động tỷ giá hối đoái khó có thể giải quyết một cách căn cơ, ngay cả khi những nỗ lực và chính sách của doanh nghiệp có thể giảm thiểu một số vấn đề. Mặt khác, sự thiếu hiệu quả tại các cơ quan đầu mối hành chính và hệ thống pháp luật kém phát triển tạo ra rất nhiều khoảng trống buộc Chính phủ phải giải quyết.

Ông Takeo Nakajima, Trưởng đại diện JETRO Hà Nội phát biểu tại Triển lãm Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 10 được tổ chức tại Hà Nội
Ông có đề xuất gì để Việt Nam tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh và thu hút đầu tư nước ngoài không?
Chuyển đổi sang môi trường tuần hoàn và kinh tế bền vững
Đầu tiên, nền kinh tế Việt Nam cần chuyển đổi theo hướng tuần hoàn hơn để đạt được phát triển bền vững. Ô nhiễm không khí, nguồn nước và đất; giao thông kém an toàn và tắc nghẽn; cơ sở hạ tầng cũ kỹ; và tình trạng xả rác thải, hóa chất độc hại tràn lan khắp nơi. Những vấn đề này gây hại tới sức khỏe, gây ô nhiễm các khu đô thị và làm suy thoái môi trường kinh doanh.
Bãi bỏ quy định, đổi mới
Thứ hai, Việt Nam phải thực hiện một bước nhảy vọt nữa để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn. Việt Nam cần đổi mới. Đổi mới đòi hỏi thay đổi đáng kể hệ thống hiện tại. Cần những thay đổi mạnh mẽ về tài chính, y tế, giáo dục, bán lẻ, thông tin và vận tải nhưng phải thừa nhận rằng cơ chế hiện tại không hiệu quả, cản trở kế hoạch đưa ra. Tuy nhiên, mọi quốc gia đều có sự hợp lý nhất định với hệ thống hiện tại, vì vậy việc chuyển đổi cần nỗ lực đáng kể.
Biện pháp chống lão hóa, gia tăng sức khỏe người già
Thứ ba là đẩy mạnh các biện pháp gia tăng sức khỏe người già. Nhật Bản hiện đang trải qua xã hội già hóa, với gánh nặng xã hội gia tăng ở mọi mặt và thặng dư từ lao động được đầu tư nhiều hơn vào “tăng cường” và “duy trì” chứ không phải cho “tăng trưởng”. Việt Nam là quốc gia trẻ nhưng lại là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất ASEAN. Chính phủ sẽ dành ra một phần đáng kể từ tăng trưởng kinh tế và nguồn tài chính dự phòng cho vấn đề này.
Mặt khác, đúng như cái tên “công việc/ngành nghề cho người cao tuổi”, ở các quốc gia có dân số già, các doanh nghiệp nhắm đến người già khỏe mạnh và thoải mái sẽ cung cấp những cơ hội kinh doanh không giới hạn.
Trân trọng cảm ơn ông!
Nguồn: Vietnam Business Forum