Đầu tư công nghệ chế biến cao su: Doanh nghiệp chưa mặn mà

10:45:27 | 5/12/2011

Trong mấy năm gần đây, công nghiệp chế biến sản phẩm cao su tại Việt Nam đã có những bước phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước. Trong thực tế, các nhà máy sơ chế cao su chủ yếu vẫn áp dụng công nghệ trong nước. Rất nhiều thiết bị của các nhà máy chế biến đã đầu tư quá lâu, máy móc cũ kỹ và lạc hậu làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm.

Theo kết quả điều tra năm 2010 của Trung tâm Tin học và Thống kê (Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn), cả nước có 155 nhà máy sơ chế cao su với tổng công suất là 978.950 tấn, vượt gần 30% so với năng lực sản suất tại thời điểm đó (754.500 tấn). Dự báo của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) cho thấy, năm 2011 sản lượng cao su cả nước đạt 780.000 tấn và cả năm 2012 cũng chỉ dừng lại ở con số 810.000 tấn.

Các nhà máy tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Bộ, có 104 nhà máy, chiếm 77,5% tổng công suất, bình quân công suất năm là 7.291 tấn/nhà máy. Tây Nguyên có 23 nhà máy, chiếm 16,4% tổng công suất và quy mô nhà máy khá lớn với bình quân công suất năm là 7.004 tấn/nhà máy. Các nhà máy ở phía bắc Trung Bộ chỉ chiếm 6,1% tổng công suất nhưng có đến 28 nhà máy và phần lớn có quy mô nhỏ, bình quân công suất năm là 2.129 tấn/ nhà máy.

Theo đó, công suất các nhà máy sơ chế cao su năm 2010 chỉ huy động sử dụng khoảng 76,9%. Điều này cho thấy các nhà máy sơ chế cao su sẽ hoạt động không hết công suất trong khoảng gần 2 năm tới, đây là một lãng phí không nhỏ cho ngành. Điều này cũng cho thấy các doanh nghiệp cao su không mặn mà với việc đầu tư công nghiệp sơ chế cho ngành cao su.

Kết quả khảo sát một số nhà máy sơ chế cho thấy, hiện tại phần lớn dây chuyền công nghệ thiết bị sơ chế cao su chủ yếu là áp dụng công nghệ trong nước (chiếm 92% tổng vốn đầu tư). Rất nhiều thiết bị của các nhà máy chế biến đã đầu tư quá lâu, máy móc cũ kỹ và lạc hậu làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sản phẩm. Trong khi đó, trình độ lao động và khâu quản lý chất lượng của các cơ sở sản xuất không đồng đều, điều này tất yếu dẫn đến việc các doanh nghiệp xuất khẩu luôn bị động vào giá từ các đối tác, tính rủi ro của ngành ngày càng gia tăng.

Chính vì quá chú trọng vào sản lượng cao su sơ chế để mong nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu mà nhiều doanh nghiệp đã không chú trọng đến việc đầu tư nâng cao công nghệ chế biến và quy trình kiểm soát chất lượng. Do vậy, hiện tại ngành cao su đang phải đối mặt với tình trạng danh sách chủng loại cao su sơ chế còn rất sơ sài, chưa đáp ứng được thị trường tiêu thụ trọng điểm.

Theo bà Trần Thị Thúy Hoa – Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam, việc đầu tư vào công nghiệp chế biến sản phẩm trong ngành cao su chưa được doanh nghiệp chú trọng do còn nhiều khó khăn hạn chế như thiếu nguồn nhân lực trình độ cao, những công nghệ tiên tiến đòi hỏi nguồn tài chính lớn, thương hiệu của các sản phẩm cao su Việt Nam chưa được biết đến nhiều trên thị trường thế giới và sức cạnh tranh chưa cao, nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của ngành công nghiệp cao su Việt Nam mà phần lớn phải nhập như cao su tổng hợp, hóa chất, nguyên vật liệu, ngay cả một số chủng loại cao su thiên nhiên do ít sản xuất trong nước.

Trong 5 năm gần đây, công nghiệp chế biến sản phẩm cao su tại Việt Nam đã có những bước phát triển tuy chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước, nhưng rất đáng khích lệ với mức tăng trưởng trên 10% hàng năm và kim ngạch xuất khẩu tăng liên tục, ước đạt khoảng 400 triệu USD năm 2011.

Cũng theo bà Hoa, để đẩy mạnh hơn nữa công nghiệp chế biến sản phẩm cao su ở Việt Nam, góp phần nâng cao giá trị gia tăng của ngành, trước mắt, các doanh nghiệp cần tiếp tục phát triển những sản phẩm đã và đang được thị trường chấp nhận, đồng thời nghiên cứu thị trường sâu hơn để chọn những sản phẩm mới đáp ứng một số phân khúc của thị trường có nhu cầu lâu dài trong tương lai và phù hợp với điều kiện sản xuất của Việt Nam. Những năm gần đây, sản phẩm lốp xe kích thước lớn sử dụng trong vận tải khối lượng lớn, xây dựng, khai thác khoáng sản hoặc những sản phẩm bánh xe đặc loại nhỏ nhận được nhiều đơn hàng gia tăng dần. Sản phẩm cao su kỹ thuật làm phụ kiện trong xe máy, ô tô và nhiều ngành công nghiệp khác cũng có bước tăng trưởng khá cao. Các loại nệm, gối cao su chỉ thum làm từ cao su thiên nhiên cũng là một sản phẩm ưu thế của ngành công nghiệp cao su Việt Nam.

Ngoài ra rất cần có những chính sách ưu tiên từ cấp Nhà nước và doanh nghiệp dành cho việc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực trình độ cao về ngành công nghiệp cao su, tạo thuận lợi cho việc đầu tư vay vốn, địa điểm nhà xưởng, cung cấp thông tin đầy đủ cho doanh nghiệp để có cơ sở xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với thị trường, ưu tiên đẩy mạnh xúc tiến thương mại giới thiệu sản phẩm cao su Việt Nam tại thị trường trong nước và thế giới, phát triển những sản phẩm liên quan như hóa chất và nguyên vật liệu cho ngành cao su để giảm lệ thuộc vào nước ngoài.

Đan Thy