Nâng cao uy tín cho ngành cao su Việt Nam

10:51:41 | 5/12/2011

Những năm gần đây, giá cao su có xu hướng tăng nhưng nhiều biến động trong ngắn hạn, điều này dễ gây rủi ro cho các doanh nghiệp cao su Việt Nam. Để hiểu rõ hơn về điều này, Tạp chí Vietnam Business Fourm đã có cuộc trao đổi với bà Trần Thị Thúy Hoa – Tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam. Hà Linh thực hiện.

Theo bà, năm 2011 ngành Cao su Việt Nam có thể vượt chỉ tiêu xuất khẩu không?

Trong 8 tháng đầu năm nay, ngành Cao su Việt Nam đã xuất khẩu được 449.456 tấn, trị giá 1,04 tỷ USD, đơn giá bình quân là 4.323 USD/tấn, tăng 4,2% về lượng, tăng 64,9% về giá trị và tăng 58,3% về đơn giá so với cùng kỳ năm trước. Cao su là một trong những nông sản có mức tăng trưởng cao cả về giá trị và lượng. Từ tháng 5 đến nay, giá giảm dần theo đà tăng sản lượng trong mùa vụ thu hoạch và sức tiêu thụ chậm lại do tốc độ tăng trưởng kém của nền kinh tế châu Âu, châu Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, giá vẫn ở mức cao hơn năm 2010 và với sản lượng tăng, có triển vọng kim ngạch xuất khẩu cao su vượt chỉ tiêu 2,3 tỷ USD và đạt trên 3 tỷ USD trong năm 2011.

Tuy kết quả xuất khẩu khả quan, nhưng tại một hội thảo mới đây bà có nhận định nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cao su luôn gặp những rủi ro từ thị trường thế giới, có cách nào để hạn chế tình trạng trên?

Hiện nay, trên 85% sản lượng cao su Việt Nam được xuất khẩu nên giá tùy thuộc nhiều vào thị trường cao su thế giới. Những năm gần đây, giá cao su trong xu hướng tăng nhưng nhiều biến động trong ngắn hạn và dễ gây rủi ro cho doanh nghiệp. Để hạn chế và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, Hiệp hội Cao su Việt Nam thường xuyên cập nhật thông tin về thị trường và giá cao su trên thế giới cũng như trong nước để doanh nghiệp tham khảo làm cơ sở quyết định giá mua bán. Hiệp hội cũng hợp tác chặt chẽ với các Hiệp hội cao su những nước sản xuất cao su lớn như Thái Lan, Indonesia, Malaysia để giá bán không dưới giá thành nhằm bảo vệ quyền lợi cho người trồng và đảm bảo nguồn cao su thiên nhiên.

Bà có thể lý giải nguyên nhân vì sao mà thị trường xuất khẩu ngành cao su Việt Nam rất bó hẹp, các doanh nghiệp cao su ít tìm đến các thị trường tiềm năng hơn mà chủ yếu là ở Trung Quốc, trong khi với thị trường này thì các doanh nghiệp thường gặp khó khăn?

Trung Quốc hiện là nước nhập khẩu cao su thiên nhiên lớn nhất trên thế giới, trên 30% tổng sản lượng xuất nhập khẩu cao su trên thế giới. Do vậy không chỉ Việt Nam mà Trung Quốc còn là thị trường xuất khẩu chính của Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Chính sách quản lý xuất nhập khẩu chính ngạch của Trung Quốc khá ổn định. Chỉ có việc quản lý xuất nhập khẩu tiểu ngạch của Trung Quốc thường thay đổi và khó lường với lý do kiểm soát giấy phép nhà nhập khẩu vì phát sinh quá nhiều.

Trong thời gian đây, doanh nghiệp Việt Nam đã tăng cường mở rộng xuất cao su sang thị trường mới nhưng số lượng xuất được vẫn còn khiêm tốn, một phần do nhu cầu của thị trường này không cao, một phần do yêu cầu chất lượng rất khắt khe mà nhiều doanh nghiệp quy mô nhỏ khó đáp ứng khi gom mua cao su từ nhiều nguồn nguyên liệu khác nhau.

Để góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu cao su Việt Nam, tăng cường xuất khẩu chính ngạch, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam và nhiều doanh nghiệp có năng lực đang có chủ trương tăng cường thu mua cao su tiểu điền để sản xuất cao su chất lượng cao và ổn định, nâng cao uy tín cho ngành cao su Việt Nam.

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu cao su lớn trên thế giới nhưng chất lượng cao su còn chưa cao? Cần có những biện pháp nào để cải thiện tình hình trạng trên, thưa bà?

Chất lượng cao su của Việt Nam chưa đồng đều, chỉ có những doanh nghiệp lớn có điều kiện đầu tư nâng cao chất lượng, đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Còn các doanh nghiệp nhỏ thường hạn chế đầu tư để nâng cấp chất lượng hàng cao su xuất khẩu. Ngoài ra, việc pha trộn tạp chất vào nguồn mủ đưa về nhà máy đã làm giảm nghiêm trọng chất lượng cao su của Việt Nam trong thời gian gần đây.

Để cải thiện chất lượng cao su Việt Nam, Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ, khuyến khích các nhà máy sơ chế cao su thiên nhiên đầu tư nâng cao chất lượng và có biện pháp quản lý chặt chẽ từ khâu nguyên liệu đầu vào đến sản phẩm đầu ra, cần xử lý nghiêm các hành vi pha trộn tạp chất vào nguồn nguyên liệu mủ và có lộ trình tiến đến bắt buộc các lô hàng cao su xuất khẩu phải kèm giấy kiểm nghiệm chất lượng. Ngoài ra cần khen thưởng, công bố danh sách những doanh nghiệp uy tín trong việc đảm bảo chất lượng cao su thiên nhiên.

Xin bà cho biết ý kiến về việc xây dựng nguồn nguyên liệu bền vững cho ngành cao su Việt Nam?

Theo quy hoạch của Nhà nước, Việt Nam sẽ phát triển diện tích cao su trong nước đến 800 ngàn ha và đầu tư ra nước ngoài khoảng 200 ngàn ha. Hiện nay, trong nước đã có khoảng 770 ngàn ha và đầu tư Lào, Campuchia trên 100 ngàn ha. Mục tiêu này có thể hoàn thành vào năm 2015 và sau đó, khó có thể tăng về diện tích do hạn chế về đất đai. Tuy nhiên sản lượng của ngành có thể vượt so với chỉ tiêu 1,2 -1,3 triệu tấn nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý.

Để xây dựng nguồn nguyên liệu bền vững cho ngành cao su Việt Nam, trong điều kiện đất đai hạn chế, cần tích cực áp dụng những giống mới cao sản và tiến bộ kỹ thuật để đem đến năng suất cao và hiệu quả kinh tế thỏa đáng nhằm duy trì diện tích cao su, tạo nguồn sản lượng bền vững và cải thiện thu nhập cho người sản xuất. Bên cạnh đó, cần hợp tác chặt chẽ với các nước sản xuất và tiêu thụ cao su để có những thông tin dự báo cung cầu của thị trường, làm cơ sở cho quy hoạch phát triển diện tích và sản lượng cao su Việt Nam cân đối, phù hợp với nhu cầu.