Kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững tại Việt Nam

09:57:28 | 15/12/2011

Việt Nam đựợc coi là một trong những nước giàu về “vốn tự nhiên”, nhưng việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên lại thấp và hiện nay mức độ thiệt hại kinh tế do ô nhiễm suy thoái đang ở mức cao. Để hướng tới một nền kinh tế xanh thì nguồn nhân lực, công nghệ, nhận thức, vốn… sẽ là những rào cản tạo khoảng cách lớn mà Việt Nam phải vượt qua.

Mức độ “nâu” lấn chiếm nền kinh tế

Nằm trong khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới, đường bờ biển dài hơn 3.200km, lãnh hải hơn 1 triệu km2, dân số hơn 90 triệu người thuộc nhóm dân số trẻ, chưa kể những “vốn tự nhiên từ thiên nhiên sẵn có”, Việt Nam có rất nhiều lợi thế trên lộ trình hướng tới nền kinh tế xanh, ông Nguyễn Văn Tài, viện trưởng viện Chiến lược chính sách tài nguyên và môi trường (bộ Tài nguyên môi trường) cho biết tại diễn đàn “Kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững ở Việt Nam” do bộ Kế hoach - Đầu tư tổ chức tại Hà Nội ngày 13.12.

Chiến lược tăng trưởng xanh giai đoạn 2011 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 sẽ được bộ Kế hoạch và đầu tư trình lên Thủ tướng Chỉnh phủ vào tháng 6.2012. Với ba mục tiêu chính: giảm phát thải nhà kính: 10-20% (2011-2020) và 35-45% (2020-2030), xanh hóa sản xuất: 100% các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải và xanh hóa lối sống, tiêu dùng.

Các tiềm năng phát triển năng lượng tái tạo tính theo kwh/m2/năm của Việt Nam tương đối cao: năng lượng mặt trời 1.300 -2.200, gió đạt 2.700-4.500 tại vùng đảo xa. Tiềm năng thủy điện nhỏ cho phép xây dựng hơn 600 trạm với tổng công suất hơn 1.300MW, tiềm năng năng lượng sinh học, sinh khối từ gỗ, phụ phẩm nông nghiệp.. lên tới 15 triệu TOE (tấn dầu tương đương).

Tuy nhiên, theo Ông Johan Kieft – Cố vấn kỹ thuật dự án “Tăng cườngnăng lực lồng ghép phát triển bền vững và biến đổi khí hậu trong công tác lập kế hoạch” , cho rằng các ngành kinh tế “nâu” đang chiếm tỷ trọng lớn do vậy con đường tiến tới nền kinh tế xanh của Việt Nam đang đối diện với nhiều thách thức. Cụ thể là mức thu nhập trung bình đầu người/năm chỉ bằng 1/10 mức thu nhập trung bình trên thế giới. Hiệu quả sử dụng tài nguyên thấp, thiệt hại kinh tế do ô nhiễm suy thoái ở mức -11,54%, trong khi con số này ở Nhật là -0,82%, Hàn Quốc là -1,79%. Công nghệ sản xuất lạc hậu chậm đổi mới tiêu tốn nhiều năng lượng, chất lượng sản phẩm thấp, phát sinh nhiều chất thải gây ô nhiễm suy thoái môi trường, kèm với đó là tốc độ gia tăng phát thải khí nhà kính cao nhất trên thế giới. Đa dạng sinh học suy giảm, tài nguyên không tái tạo cạn kiệt, biến đổi khí hậu… đó sẽ là những thách thức “thêm” trên con đường hướng tới nền kinh tế xanh của Việt Nam.

Kinh tế xanh góp phần phát triển bền vững

Phát biểu tại diễn đàn Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân nhận định, kinh tế xanh được coi là mô hình mới giải quyết các thách thức mang tính toàn cầu là biến đổi khí hậu, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, an ninh năng lượng. Điều này đã được Chính phủ Việt Nam thể hiện trong nỗ lực thực hiện mục tiêu thay đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng phát triển bền vững, cải thiện tác động của biến đổi khí hậu, gắn tăng trưởng với công bằng xã hội, giảm đói nghèo và bảo vệ môi trường.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương cũng cho biết, hiện nay, một số nước trên thế giới đang bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh. Ở Việt Nam, khái niệm về kinh tế xanh còn khá mới mẻ và cũng chưa có sự nhất quán về nội hàm kinh tế xanh phù hợp với bối cảnh phát triển của Việt Nam.

Chia sẻ với nhận định này, bà Setsuko Yamazak, Giám đốc quốc gia của UNDP tại Việt Nam khẳng định, UNDP sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam cải thiện chất lượng tăng trưởng và chuyển dịch cấu trúc kinh tế theo hướng bảo vệ môi trường và khôi phục lại vốn tự nhiên. Đây là cách duy nhất để đạt được một tương lai bền vững cho tất cả công dân Việt Nam.

Theo Báo cáo của bà Nguyễn Lệ Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, giáo dục, tài nguyên và môi trường - Phó chánh Văn phòng Phát triển bền vững, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến nay, thực tiễn phát triển kinh tế xanh đã được xác định là trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia của nhiều nước trên thế giới nhằm đạt được sự phát triển bền vững. Điển hình như Hoa Kỳ đã dành 95 tỷ USD trong gói kích thích kinh tế hơn 700 tỷ USD để phát triển các ngành năng lượng tái tạo và sản xuất tiết kiệm năng lượng với mục tiêu đến năm 2025, các loại năng lượng tái tạo sẽ chiếm 25% lượng phát điện; các nước EU đầu tư 105 tỷ Euro vào kinh tế xanh với mục tiêu giảm 20% lượng khí thải nhà kính, tăng năng lượng tái tạo lên 20% tổng tiêu thụ năng lượng của cả khối vào năm 2020; Đức đang có nhiều nỗ lực để trở thành cường quốc công nghiệp đầu tiên trên thế giới sử dụng 100% “năng lượng xanh” vào năm 2050.

Các quốc gia ở trong khu vực ASEAN cũng đã đưa kinh tế xanh vào các kế hoạch và chương trình phát triển quốc gia trung và dài hạn. Philippines đã ban hành Chương trình phát triển xanh, tranh thủ hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á để phát triển các dự án tái chế và phát thải các-bon thấp; Malaysia đã đưa ra chính sách phát triển công nghệ xanh với 4 trụ cột chính là năng lượng, môi trường, kinh tế và xã hội.

Hiện nay theo các báo cáo thì hướng tiếp cận chính của Việt Nam là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng thu hẹp khu vực “kinh tế nâu”, mở rộng sang khu vực “kinh tế xanh”, hạn chế sử dụng năng lượng hóa thạch, thúc đẩy đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Việc đi theo xu hướng kinh tế xanh có phải là con đường đúng đắn nhất hay không cho Việt Nam thì còn dựa vào những chính sách cụ thể cho xu hướng kinh tế này và theo như Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn thiện Nhân: duy trì đà tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường và giữ được sự ổn định hài hòa của thiên nhiên chính là yêu cầu quan trọng nhất cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Thứ trưởng bộ Kế hoạch đầu tư Nguyễn Thế Phương

Các dự án đầu tư nước ngoài sẽ bị xét đến tiêu chí “xanh”. Chúng tôi đang xây dựng chiến lược về thu hút đầu tư trong 10 năm sắp tới. Đã đến lúc phải lựa chọn đầu tư vừa mang lợi ích kinh tế xã hội, vừa góp phần tăng trưởng xanh. Theo đó, công nghệ cao ít gây ô nhiễm môi trường, sử dụng ít nguồn tài nguyên thiên nhiên, ít chất đốt, xăng dầu, điện, than và tạo ra được giá trị gia tăng cao, góp phần bảo vệ môi trường sẽ là tiêu chí lựa cho các dự án đầu tư.

Tiến sĩ Đoàn Duy Khương, phó chủ tịch phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Việt Nam đã có hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững với hơn 20 thành viênlà doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp đa quốc gia như Coca Cola, Unilever, FPT, Dutch Lady…Ngoài những kiến nghị tới Chính phủ, hội đồng còn thí điểm dự án “xanh, sạch” như áp dụng hệ thống chiếu sáng mới mang lại hiệu quả năng lượng cho công ty May 10. Chính phủ nên có dự án mạnh mẽ tạo thị trường vốn cho nền kinh tế xanh, tạo tiếng nói chung và động lực để cộng đồng doanh nghiệp đóng góp

Giáo sư Phạm Ngọc Đăng- Phó chủ tịch hội Bảo vệ thiên nhiên môi trường Việt Nam

Chi phí để làm 1Kw năng lượng gió, năng lương mặt trời cao gấp năm lần so với điện năng từ than, thủy điện hiện tại. Vì vậy, trước khi nghĩ đến việc tạo ra nguồn năng lượng sạch quá đắt đỏ thì VN nên chọn những cách có thể làm ngay như trồng rừng, một cách làm giảm lượng CO2 nhanh nhất. Tương tự, nên nghĩ tới cải thiện hiệu quả sản xuất đang ở mức thấp so với thế giới thay vì nghĩ tới những cái không thể làm ngay.

Giáo sư.Tiến sĩ khoa học Nguyễn Quang Thái- Tổng thư ký hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

Vốn của Việt Nam có hạn nên giải pháp để lựa chọn chỉ có thể làm sạch hơn, làm xanh hơn chứ không thể yêu cầu sạch tuyệt đối, xanh tuyệt đối như các quốc gia khác được.

Đỗ Ngọc