Doanh nghiệp chế biến cao su trong nước: Lao đao vì thiếu nguyên liệu sản xuất

10:59:58 | 5/12/2011

Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu ngành cao su hàng đầu thế giới, thế nhưng trong những năm qua các doanh nghiệp chế biến cao su trong nước vẫn cứ thiếu nguồn nguyên liệu sản xuất ngay trên chính sân nhà.

Nghịch lý

Cao su là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 10 trong tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2010, Việt Nam đã xuất khẩu cao su thiên nhiên sang 80 nước trong đó có Trung Quốc chiếm thị phần lớn nhất khoảng 461.200 tấn, trị giá khoảng 1,4 tỷ USD, kế đến là Malaysia có mức tăng trưởng nhanh đến 55%, đạt gần 52.000 tấn, chiếm 7% thị phần, và những thị trường quan trọng sang như Đức, Hoa Kỳ, Đài Loan, Hàn Quốc… Bên cạnh đó, thị trường nội địa cũng đang có hướng phát triển. Theo Công ty Công nghiệp cao su miền Nam, thị trường sản xuất lốp xe cao su Việt Nam sẽ phát triển trong thời gian tới vì sản lượng cao su tại các thị trường Hoa Kỳ, châu Âu, Nhật Bản đang giảm. Đây là cơ hội để các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, giành lợi thế vượt trội trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu lốp xe.

Thế nhưng, với vị thế đứng thứ 4 thế giới về xuất khẩu mủ cao su, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu cao su có lãi lớn thì các doanh nghiệp chế biến cao su trong nước do thiếu nguyên liệu nên đang lâm vào tình trạng khó khăn. Đơn cử như Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng vừa khởi công xây dựng nhà máy sản xuất vỏ xe radiant với công suất 600.000 chiếc, dự kiến khi nhà máy đi vào hoạt động, cần khoảng 20.000 tấn mủ cao su nguyên liệu/ năm. Tuy nhiên, Công ty không tìm được nguồn mua nguyên liệu ổn định trong nước do giá mủ cao su tăng liên tục từ cuối năm 2010 đến nay, ngành cao su chỉ tập trung cho xuất khẩu chứ không bán cho doanh nghiệp trong nước. Không chỉ doanh nghiệp trên sân nhà lao đao vì thiếu nguyên liệu, mà kể cả nhiều doanh nghiệp ngoại có tiềm năng lớn nhưng cũng không đủ nguyên liệu sản xuất săm lốp ô tô, điều này đã khiến các doanh nghiệp phải tính đến con đường nhập khẩu nguyên liệu để đủ nhu cầu sản xuất.

Thêm vào đó hiện nay, người dân Việt Nam trồng và cung cấp mủ cao su dưới hai hình thức: đại điền (trồng ở những vùng lớn) và tiểu điền (trồng ở những hộ gia đình nhỏ). Do ảnh hưởng bởi nguồn tin về việc cao su bị pha tạp chất lạ làm giảm chất lượng mủ nên rất nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ thu mua ở những tiểu điền sang đại điền. Với việc thay đổi này, các thương nhân Trung Quốc dễ dàng mua được cao su giá rẻ trong khi đó các doanh nghiệp lại đối mặt với tình trạng thiếu nguồn nguyên liệu.

Cần có sự gắn kết giữa các doanh nghiệp

Trong năm 2010, cả nước xuất khẩu trên 780.000 tấn cao su nguyên liệu, thu khoảng 2,4 tỉ USD, trong khi theo ước tính của Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), doanh nghiệp sản xuất trong nước chỉ sử dụng 140.000 tấn mủ cao su. Như vậy không thể nói là các doanh nghiệp trong nước không có đủ nguyên liệu để sản xuất.

Lý giải nghịch lý này, nhìn lại những năm 1999 – 2000 thị trường cao su không ổn định, sản lượng nhiều, doanh nghiệp thu mua nguyên liệu ép giá, nhiều đơn hàng đã ký bị hủy bỏ… khiến doanh nghiệp sản xuất lao đao bởi lượng tồn kho lớn. Các doanh nghiệp luôn muốn tâm lý mua rẻ. Theo Chủ tịch VRA kiêm quyền Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam Lê Quang Thung cho rằng, doanh nghiệp trong nước chưa chịu vận hành theo cơ chế thị trường, vẫn chưa chuyên nghiệp dẫn đến chưa có nguồn nguyên liệu ổn định và bền vững. Đến khi khi ngành sản xuất nguyên liệu cao su đã tổ chức lại được lượng khách hàng dồi dào, giá cả phụ thuộc vào thị trường… thì các doanh nghiệp trong nước vẫn theo kiểu “chộp giật” cơ chế cũ.

Tuy nhiên cần khẳng định, việc xuất cứ xuất dù nguyên liệu cho sản xuất trong nước vẫn thiếu bắt nguồn từ công tác điều hành của cơ quan quản lý, không thể đổ hết lỗi cho doanh nghiệp.

Để tránh tình trạng thiếu nguyên liệu sản xuất ngay trên sân nhà, các doanh nghiệp nội nên chủ động việc thu mua nguyên liệu theo cơ chế thị trường, để qua đó lấy được lòng tin của các nông hộ trồng cao su, đó cũng là hình thức các doanh nghiệp “gián tiếp” hình thành vùng nguyên liệu cho công ty. Đồng thời, các đơn vị sản xuất, chế biến săm lốp trong nước nên để doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu làm cổ đông chiến lược, nhằm giành thế chủ động trong cung cấp nguyên liệu phục vụ sản xuất.

Bên cạnh đó, còn cần có sự gắn kết giữa các doanh nghiệp với nhau, hợp tác cùng nhau phát triển, tạo nên sức cạnh tranh với những công ty ngoại trên sân nhà. Nếu liên kết với nhau, thì sức mạnh của các công ty cũng được khẳng định và cũng chủ động có được những hợp đồng lớn giá trị. Còn nếu phát triển riêng rẽ thì các doanh nghiệp sẽ phải đi chặng đường khá dài trên con đường “bá chủ” trong ngành cao su nước nhà. Trước đây, Tổng Công ty Cao su muốn được làm cổ đông chiến lược của Tổng Công ty Hóa chất (nay là Tập đoàn Hóa chất) để cung ứng nguyên liệu cho sản xuất nhưng Tổng Công ty Hóa chất không chấp thuận. Nếu hợp đồng này được ký kết, biết đâu sẽ là một sức mạnh mới cho sự phát triển ngành cao su Việt Nam.

Thảo Linh