11:30:42 | 6/12/2011
Đã có lúc Quyết định về việc tiêu thụ hàng hoá nông sản qua hợp đồng tạo được sự gắn kết giữa nông dân Việt Nam với doanh nghiệp (DN) chế biến hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, đến nay DN không còn hứng thú, còn người nông dân cũng không mấy mặn mà.
Báo cáo mới đây của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cho thấy, chỉ có một số sản phẩm nông sản có tỉ lệ tiêu thụ theo hợp đồng cao như: bông, mía đường, sữa... còn lại các hàng nông sản khác đều có tỉ lệ tiêu thụ theo hợp đồng rất thấp, như lúa chiếm 18%, chè 9%, cà phê 2,5%, rau quả 0,9% tổng sản lượng, ngành lâm nghiệp chiếm 16,7 %, thủy sản 13% tổng sản lượng.
Doanh nghiệp có lạm quyền?
Cục trưởng Cục chế biến nông lâm, thủy sản và nghề muối, ông Đỗ Văn Nam nhận xét, đã có không ít DN lạm dụng thế độc quyền như trường hợp một số DN bao tiêu nguyên liệu gây sức ép với nông dân, không mua hết sản phẩm, không thực hiện đúng cam kết về giá, tiêu chuẩn chất lượng hoặc trả tiền không sòng phẳng…

Theo Phó Giáo sư.Tiến sĩ Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường Cán bộ Quản lý nông nghiệp nông thôn II TP. Hồ Chí Minh thì khi thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá tốt, DN bao tiêu mới thực hiện đúng những điều khoản đã cam kết. Còn lúc thị trường gặp khó khăn thì DN thường tìm cách gây phiền phức với nông dân. Bên cạnh đó, việc bao tiêu hàng hoá nông sản còn rất hạn chế về số lượng, chủng loại, diện tích cùng với việc triển khai ký kết hợp đồng còn chậm, đã ảnh hưởng đến thời vụ, năng suất, sản lượng.
Nông dân tham cái lợi trước mắt
Thực tế thì với phương thức canh tác của nông dân còn manh mún, rời rạc, quy mô sản xuất chủ yếu dựa vào nông hộ nên nông nghiệp Việt Nam chưa có được mấy vùng nông sản chuyên canh.
Ham cái lợi ích trước mắt, không ít nông dân, mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước của các DN, nhưng khi thị trường biến động về giá đã bán nông sản cho tư thương hoặc DN khác. Là nạn nhân của tình trạng này, đại diện Công ty dịch vụ kỹ thuật nông nghiệp An Giang cho biết, Công ty đã liên kết và ký hợp đồng đầu tư bán chịu giống cho nông dân và mua lại sản phẩm với giá cố định. Đến vụ thu hoạch, một DN khác mua với giá cao hơn 1.000 đồng/kg so với hợp đồng ký kết, nông dân bán ngay cho DN đó, khiến Công ty vừa không mua được sản phẩm vừa mất luôn cả số tiền đầu tư ban đầu.
Chưa quen với phương thức sản xuất và mua bán theo hợp đồng kinh tế; chưa thấy được lợi ích lâu dài của hợp đồng tiêu thụ hàng hoá là những nhược điểm lớn hiện nay của người nông dân Việt Nam.
Đi tìm tiếng nói chung
Một số chuyên gia cho rằng cần phải duy trì hợp đồng tiêu thụ nông sản theo nhiều hình thức, như: nông dân có cổ phần trong DN hoặc DN có cổ phần trong HTX, DN đầu tư vật tư và chi phí sản xuất cho nông dân; nông dân đầu tư tài sản chuyên biệt như chuồng trại, trang thiết bị chuyên dùng. Hoặc có thể DN thuê đất của nông dân sau đó hợp đồng lại với nông dân để tổ chức sản xuất hoặc liên doanh hoặc cũng tự gia công sản xuất.
Theo Phó giáo sư.Tiến sĩ Vũ Trọng Khải: Chỉ khi cả người nông dân và doanh nghiệp cùng xác định sẽ chung thủy và cùng chia sẻ rủi ro thì hợp đồng mới có thể bền chặt. Muốn như vậy rất cần thiết có những qui chuẩn cho hợp đồng bao tiêu nông sản. Những qui chuẩn đó cần phải rõ ràng, dễ hiểu để phù hợp với nhận thức của người nông dân.
Không chỉ có vậy, ông Lưu Đức Khải, Trưởng ban Chính sách Phát triển nông thôn, Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho rằng: để thúc đẩy phát triển sản xuất và tiêu thụ nông sản theo hợp đồng đạt hiệu quả; các cấp chính quyền cần tích cực thực hiện công tác rà soát, bổ sung các quy định về đất đai, hỗ trợ đầu tư, tín dụng, chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại cho cả người noogn dân và doanh nghiệp. Đồng thời, tiến hành quy hoạch hình thành vùng sản xuất hàng hoá nông sản tập trung, chuyên canh, gắn sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến và thị trường.
Nguyễn Thanh