06:31:09 | 14/3/2012
Mặc dù chưa thể đánh giá hết những tác động của WTO mang lại, nhưng sau 5 năm, các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đã tự tin hơn rất nhiều sau những bỡ ngỡ, băn khoăn. Việc gia nhập WTO đã phát huy hiệu quả khi mà tỷ trọng tăng trưởng của ngành dịch vụ cao hơn tỷ trọng GDP của cả nước. Nhưng cơ hội cũng song hành cùng thách thức, với sự thâm nhập thị trường bán lẻ của các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng sâu rộng về số lượng, quy mô và thị phần.
Quy mô nhỏ
Theo bà Đinh Thị Mỹ Loan, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Các nhà bán lẻ Việt Nam, thị trường bán lẻ Việt Nam, từ khi gia nhập WTO đến nay đã bộc lộ nhiều hạn chế như quy mô thị trường nhỏ, sức mua yếu và trên địa bàn cả nước bán lẻ truyền thống vẫn chiếm đa số (gần 80%), trong khi bán lẻ hiện đại chỉ chiếm hơn 20% (Hà Nội 13%, TP Hồ Chí Minh 42%).

Không chỉ có vậy, ngành bán lẻ Việt Nam vẫn mắc những “căn bệnh” trầm kha cần phải khắc phục. Đó là thiếu chiến lược phát triển cho thị trường bán lẻ ở cả 3 cấp độ: Nhà nước, ngành công nghiệp và DN; Tính chuyên nghiệp của lực lượng các nhà phân phối bán lẻ Việt Nam, đặc biệt là quản trị DN và chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Điều đó thể hiện ở giá thành nhiều sản phẩm còn cao, chất lượng phục vụ chưa chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, các ngành chức năng chưa khuyến khích DN thuộc các thành phần kinh tế cùng cộng đồng trách nhiệm để phát triển…
Tuy nhiên, thị trường bán lẻ trong nước cũng đã đạt được những bước tiến đáng kể trong thời gian qua. Tỷ lệ đóng góp của bán buôn và bán lẻ vào GDP ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành kinh tế ở Việt Nam (năm 2005 là 13,32% thì đến năm 2010 đã tăng lên 14,43%). Đồng thời, số lao động trong ngành bán buôn, bán lẻ cũng vươn lên vị trí thứ 3, chỉ sau ngành nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, với hơn 5,5 triệu người trong hơn 49 triệu lao động trong cả nước (nói cách khác cứ 9 lao động thì có một lao động làm việc trong ngành bán buôn, bán lẻ).
Cũng theo bà Loan, giai đoạn 2009-2011, trước những khó khăn, thách thức của suy thoái kinh tế toàn cầu, tăng trưởng âm ở ngay các thị trường bán lẻ lớn trên thế giới, ngành dịch vụ bán lẻ Việt Nam đã vượt qua suy thoái với nhiều thành tựu đáng khích lệ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam năm 2011 đạt hơn 2.000 nghìn tỷ đồng (khoảng 90 tỷ USD), tăng 24,2% so với năm 2010. Mức tăng sau khi loại trừ yếu tố tăng giá đạt 4,7%. Trong đó, bán lẻ luôn giữ tỷ lệ áp đảo với hơn 79% so với các phân ngành khác như dịch vụ lưu trú, ăn uống chiếm khoảng 11% và dịch vụ du lịch chiếm gần 10% (theo số liệu năm 2010).
“Sân chơi” còn rộng chỗ
Mặc dù có những bước tăng trưởng đáng kể, nhưng theo ông Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế T.W, so với tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hóa, tỷ trọng này lại tăng không đáng kể. Cụ thể, thương mại dịch vụ tăng cao nhưng vì tốc độ tăng trưởng của thương mại hàng hóa cao hơn nên tỷ trọng thương mại dịch vụ giảm so với thương mại hàng hóa, từ mức 12,4% vào năm 2006, nay còn 11,4% trong năm 2011 và hiện nay, Việt Nam đang chịu thâm hụt dịch vụ lớn.
Trong khi đó, theo quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và định hướng đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước (theo giá thực tế) tăng bình quân 19 - 20% trong giai đoạn 2011 và 20 - 21%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020. Thực tế tại các quốc gia phát triển trên thế giới, thông thường với 100.000 người dân sẽ có trung tâm thương mại lớn; 10.000 người dân sẽ có một siêu thị và 1.000 người dân trên 1-3 cửa hàng tiện lợi.
Dựa trên các số liệu thống kê trên cho thấy, thị trường vẫn còn nhiều khoảng trống cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Do đó bà Loan cho rằng, cộng đồng DN bán lẻ cần xác định phát triển ngành phân phối, bán lẻ hiện đại với hiệu suất cao là con đường duy nhất để tiến đến thị trường phân phối, bán lẻ cạnh tranh. Để đạt được mục tiêu này, các doanh nghiệp cần vượt qua được thách thức lớn là chuyển dịch ngành phân phối, bán lẻ từ quy mô, khái niệm, cấu trúc, hệ thống và tập quán kinh doanh truyền thống sang một ngành thương mại hiệu quả, năng suất cao, công nghệ hiện đại và hướng tới người tiêu dùng.
Tuy nhiên bà Loan cũng thừa nhận, hiện đại hóa ngành bán lẻ không hề đơn giản. Bởi vậy, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tham khảo kinh nghiệm của các nhà bán lẻ quốc tế, các hiệp hội đồng nghiệp trên thế giới (Hiệp hội bán lẻ Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...) để có kế sách phù hợp cho mình.
Hương Giang