FDI: Từ vốn “mồi” đến chuyển giá

06:28:34 | 27/3/2012

Tại hội thảo “Giải pháp thúc đẩy và nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam”, nhiều ý kiến tâm huyết của các chuyên gia đã thẳng thắn chỉ ra những mặt trái của thu hút dòng vốn FDI vào Việt Nam hiện nay.

Theo ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tổng kết sau 25 năm, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã không ngừng tăng mạnh. Giai đoạn 2001 - 2010 đóng góp 10 tỉ USD cho ngân sách, riêng 2010 là 3 tỉ USD và 2011 hơn 3,5 tỉ USD. Tính đến thời điểm hiện tại, có tất cả 13.664 dự án đã cấp phép, trong đó 55 dự án hết hạn, hơn 100 dự án đã giải thể, còn lại 13.500 dự án đang hoạt động. Ngoài đóng góp lớn vào ngân sách, dòng vốn FDI đã giải quyết việc làm cho 2 triệu lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián tiếp.

Tuy có những thành công nhất định, song theo chuyên gia kinh tế, TS Vũ Đình Ánh, trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới có những chuyển biến mới, dòng vốn FDI hiện nay vẫn đang còn tồn tại nhiều căn bệnh cần sớm được khắc phục, nếu chúng ta vẫn muốn FDI là một trong những nguồn lực kinh tế quan trọng giúp phát triển đất nước. Cụ thể, hoạt động chuyển giá của không ít doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang không chỉ gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước, mà còn khiến nhiều doanh nghiệp trong nước và người tiêu dùng bị thiệt hại không nhỏ. Phân tích về vấn đề này, ông Ánh cho rằng, hoạt động chuyển giá đã và đang gây ra thiệt hại rất lớn về kinh tế quốc gia. Trong đó, một thực tế đặt ra là hiện có rất nhiều doanh nghiệp chuyển giá bằng cách chuyển lợi nhuận ra ngước ngoài thông qua giá cao khi nhập khẩu nguyên, vật liệu, máy móc thiết bị… và giá thấp khi xuất khẩu, bất chấp DN nước sở tại bị thua lỗ nặng. Thiệt hại đầu tiên là ngân sách thất thu từ thuế thu nhập DN và thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Con số này không hề nhỏ, khi hiện tại các DN FDI chiếm tới 20% GDP, khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, chiếm 50% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở một khía cạnh khác, hoạt động chuyển giá còn làm giá máy móc thiết bị đầu vào của các doanh nghiệp FDI bị đội lên cao quá mức bình thường, đồng thời phá giá sản phẩm đầu ra, dẫn tới thua lỗ giả tạo. Thực tế trong thời gian qua không ít doanh nghiệp FDI đã liên tục báo lỗ khiến vốn góp của phía liên doanh VN bị mất dần đi đến khi không chịu nổi, phải nhượng lại, biến DN liên doanh thành DN 100% vốn nước ngoài. Nguy hại hơn, hoạt động chuyển giá còn cố tình thổi phồng nguồn vốn thực hiện khiến bức tranh chung FDI bị méo mó, các DN FDI thua lỗ khiến lương lao động không được cải thiện, thậm chí còn bị giảm sút. Và hệ ly tất yếu của những căn bệnh không được chữa khỏi này thì người tiêu dùng và doanh nghiệp Việt Nam phải lãnh đủ. Cụ thể, do đầu vào sản xuất kinh doanh của DN VN phụ thuộc vào nhập khẩu với mức giá cao mà sản phẩm đầu ra lại chịu sức ép bán phá giá của DN FDI. Hơn nữa, các DN trong nước phải chịu thuế trực thu (TNDN 25%), trong khi DN FDI chịu thuế gián thu (thuế nhập khẩu, giá trị gia tăng) mà thực chất là người tiêu dùng cuối cùng phải gánh chịu, nên DN VN đã khó lại càng khó.

Theo ông Vũ Đại Thắng, Vụ trưởng Vụ quản lý các khu kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, xu hướng hiện nay đang có tình trạng vốn “mồi” trong việc thu hút nguồn vốn FDI. Theo đó, không ít các doanh nghiệp FDI thường huy động vốn ngay trên thị trường nội địa để đầu tư, chỉ cho dự án đăng ký một ít vốn “mồi”, khi được chấp thuận sẽ huy động vốn nước sở tại, gây không ít hệ lụy đối với công tác quản lý và hiệu quả của các dự án. Ngoài ra, một vấn đề khó khăn khác đặt ra là, các doanh nghiệp nội không dễ tiếp nhận công nghệ - kỹ thuật, bởi các DN đầu tư nước ngoài thường có xu hướng giấu bí quyết, coi đó như “bảo bối” trong thương lượng và cạnh tranh với Việt Nam. Trong khi các doanh nghiệp và các cơ quan quản lý của Việt nam cũng không ý thức được tầm quan trọng và không đòi hỏi khắt khe, vì vậy khâu chuyển giao công nghệ từ trước tới nay vẫn chưa thực sự có những công nghệ lõi, công nghệ mang tính đột phá, có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn. Do đó, nhiều doanh nghiệp FDI đã lợi dụng thực tế này để chuyển giao công nghệ lạc hậu, cũ kỹ để lại tác hại lớn cho môi trường, trong khi hiệu quả đầu tư lại quá thấp so với yêu cầu.

Bàn về vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp FDI, ông Huy Nam, chuyên gia tài chính, chứng khoán cho rằng, việc cổ phần hóa (CPH) và niêm yết doanh nghiệp FDI từ lâu đã bị ngưng trệ, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Muốn tháo gỡ tình trạng này, cần hóa giải “chốt” 30% và 49%. Cụ thể tại Quyết định 55/2009/QĐ-TTg, chúng ta đã vô tình “ép” DN 100% vốn đầu tư nước ngoài khi muốn CPH và niêm yết phải thoái bớt vốn. Điều này đi ngược mong muốn của Việt Nam là tăng thu hút vốn đầu tư nước ngoài và giữ dòng vốn này ở lại. Theo ông Huy Nam, chính phủ cũng như các nhà làm luật Việt Nam cần thấy rằng, ranh giới giữa đầu tư trực tiếp (FDI) và gián tiếp (FII) không còn quá rạch ròi. Chẳng hạn, khi CPH doanh nghiệp FDI, một NĐT nước ngoài nắm giữ 30% cổ phần tại DN này, thì anh ta là NĐT trực tiếp. Thế nhưng, khi DN này niêm yết, một NĐT nước ngoài khác mua cổ phần với tỷ lệ trên 10%, thì được coi là NĐT gián tiếp. Thế nhưng, theo quy định của pháp luật Việt Nam, do NĐT sở hữu trên 10% cổ phần tại một DN, nên anh ta có quyền tham gia HĐQT. Nếu NĐT tham gia điều hành DN, thì khi đó, NĐT này lại trở thành NĐT trực tiếp. Điều này tạo ra tình trạng bất ổn là trong cùng một DN FDI niêm yết, nhưng có hai loại NĐT nước ngoài: NĐT trực tiếp và NĐT gián tiếp. Thực tế này đặt ra vấn đề có nên phân định rạch ròi giữa đầu tư FDI và FII không, nếu có thì theo tiêu chí nào? Hiện tại, đã đến lúc Việt Nam nên xem xét bỏ khống chế tỷ lệ 49%, nhằm cho phép NĐT nước ngoài được mua thêm cổ phần, thậm chí mua tới 100% nếu họ nhận thấy triển vọng kinh doanh tốt, có cam kết gắn bó lâu dài với Việt Nam, từ đó thúc đẩy hơn nữa việc thu hút dòng vốn FDI.

Trước những bất cập này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đề nghị các cơ quan hữu quan cần sớm hoàn thiện Luật Đầu tư theo hướng ưu tiên nguồn vốn FDI có thời gian giải ngân ngắn; Ưu đãi nhà đầu tư tiềm năng vào ngành nghề theo định hướng mới, đặc biệt là lĩnh vực công nghệ cao, phát triển bền vững, nông nghiệp nông thôn… Và việc nâng cao chất lượng nguồn vốn FDI cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt các dự án FDI theo phong trào, bất chấp hiệu quả, chất lượng nhằm tạo môi trường hấp dẫn dẫn cho các dự án đầu tư thực sự có hiệu quả, ông Vinh nói.

Giáo Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài: Chú trọng đến các dự án công nghệ cao.

Đã đến lúc chúng ta cần phải có một chiến lược thay đổi tư duy để thu hút dòng vốn FDI. Theo đó, nhà nước cần đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, chú trọng nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hệ thống luật pháp nhằm tạo hành lang pháp lý trong quản lý, điều hành nguồn vốn này.

Ông Nguyễn Ngọc Đông, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải: Nhu cầu vốn phát triển của ngành giao thông đến năm 2020 cần 76 triệu tỉ USD.

Những năm qua, nguồn lực cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông ngày càng lớn và đa dạng. Trong khi đầu tư toàn xã hội khoảng trên 40%, đầu tư cho phát triển hạ tầng khoảng 24,5% (bằng khoảng 9% GDP), lượng vốn đầu tư cho các dự án giao thông khoảng 2,5% tổng GDP của cả nước. Từ trước đến nay, giao thông luôn là ngành có nhu cầu thu hút vốn FDI lớn. Tương lai, ngoài việc ngành trông chờ vào nguồn vốn ngân sách thì các hình thức thu hút nguồn vốn FDI, ODA vẫn là một trong những trọng điểm ưu tiên được tính đến.

Ông Chainarong Limpkittisin, Giám đốc Công ty Reed Tradex (Thailand):

Cần quan tâm nhiều hơn tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ

Chính phủ Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn tới sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ. Bởi nếu ngành công nghiệp này phát triển tốt, nó sẽ là đòn bẩy thúc đẩy các ngành công nghiệp liên quan phát triển theo. Đặc biệt xu hướng trong thời gian tới, công nghiệp chế tạo đang là lĩnh vực “hot” thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam. Mặt khác, theo tôi đối với các nhà sản xuất trong nước nên tập hợp lại với nhau lại để nâng cao sức cạnh tranh, năng suất sản xuất để đưa ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển.


Anh Phương