10:45:22 | 9/5/2012
Tình hình kinh tế vĩ mô trong 4 tháng đầu năm 2012 đã có nhiều bước chuyển biến, các giải pháp kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô tiếp tục phát huy hiệu quả. Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng trong những tháng đầu năm có xu hướng giảm. Tuy nhiên, khó khăn của các doanh nghiệp VN vẫn còn rất lớn, hàng tồn kho và chi phí tài chính tăng cao, trong đó tập trung chủ yếu ở những ngành như xây dựng; bất động sản; công nghiệp chế biến, chế tạo (ô tô, xe máy, sắt, thép, cơ khí, thuỷ sản, dệt may...); chăn nuôi, sản xuất lâm nghiệp; dịch vụ, ăn uống; khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước; DNNVV và một số doanh nghiệp lớn, thậm chí cả doanh nghiệp ở những địa bàn lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương...
Kinh tế khó khăn
Theo Bộ tài chính, tính đến hết tháng 4/2012, chỉ số CPI tăng 2,6% so với tháng 12/2011. Nhập siêu khoảng 176 triệu USD, bằng khoảng 0,53% tổng kim ngạch xuất khẩu. Lãi suất tín dụng giảm, thanh khoản của hệ thống ngân hàng và dự trữ ngoại hối được cải thiện, tỷ giá ổn định, thị trường chứng khoán có dấu hiệu khởi sắc. Sản xuất kinh doanh trong một số lĩnh vực tiếp tục có những chuyển biến và duy trì tăng trưởng (ngành đóng và sửa chữa tàu; chế biến và bảo quản rau quả; sản xuất sản phẩm bơ, sữa...); xuất khẩu 4 tháng tiếp tục tăng trưởng, ước đạt 33,4 tỷ USD, tăng 22,1%.

Tuy nhiên, tăng trưởng GDP quý I/2012 đạt 4%, là mức thấp nhất kể từ năm 2004 (ngoại trừ quí I/2009), trong đó ngành công nghiệp chế biến chỉ tăng 3,04%, xây dựng giảm 3,85%, ngành dịch vụ cũng tăng trưởng chậm lại. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm 2012 tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2011, là mức tăng thấp. Trong đó, sản lượng của nhiều ngành giảm như xi măng (đạt 93,5%), sắt thép (91,1%), xe có động cơ (84,1%), giầy da (93,5%)...
Chỉ số tồn kho tại thời điểm 01/04/2012 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,1%, mức tăng tương đối cao so với cùng kỳ các năm trước, trong đó tập trung vào một số ngành như chế biến và bảo quản rau quả (tăng 94,8%), phân bón (tăng 63,4%), xi măng (tăng 44,2%), xe máy (tăng 38,9%), sản xuất trang phục (tăng 35,6%), chế biến thủy sản (tăng 35,2%), sản xuất xe có động cơ (tăng 31,6%). Kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh ở các mặt hàng như: linh kiện phụ tùng ôtô; xăng dầu; linh kiện xe máy; nguyên phụ liệu cho sản xuất, xuất khẩu (vải, bông, sợi dệt…).
Số lượng doanh nghiệp đăng ký mới giảm, doanh nghiệp giải thể và phá sản tăng
Bộ tài chính cho biết, qua theo dõi Mã số thuế doanh nghiệp, quý I/2012 có hơn 18.700 doanh nghiệp thành lập mới, giảm 10,2% so với cùng kỳ 2011. Số doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh có thời hạn là gần 18.700 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp giải thể, phá sản và ngừng hoạt động là khoảng 10.350 doanh nghiệp, tăng 14,8% so với cùng kỳ; trong số đó có 23,1% doanh nghiệp thành lập được 1 năm và 41,9% doanh nghiệp thành lập được 2 năm.
Doanh thu bán hàng hoá dịch vụ trong quý I/2012 giảm 7% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó khu vực DNNN giảm 14%, doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 21%, riêng khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN tăng 24%.
Đáng chú ý, đến cuối năm 2011 số nợ thuế phải thu chiếm tỷ trọng 6,95% so với số thuế đã nộp vào NSNN, tăng 1,76% so với năm 2010. Tính đến hết tháng 2/2012, số thuế nợ tăng 28,5% so với 31/12/2011, trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN tăng 25,7%, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 13,9%, khu vực DNNN tăng 4,3%. Một số ngành có số nợ thuế GTGT tăng cao so với cùng kỳ 2011 như bất động sản, vận tải, sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nông- lâm nghiệp, thuỷ sản, công nghiệp khai khoáng, dịch vụ ăn uống khách sạn.
Tính đến giữa tháng 3, tổng số doanh nghiệp nợ thuế hải quan quá hạn là 8.465 doanh nghiệp (tăng 6,04% so với thời điểm 31/12/2011). Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước chiếm 78,9%, khu vực doanh nghiệp có vốn ĐTNN và khu vực DNNN chiếm tương ứng 10,6% và 10,5%. Nợ thuế hải quan quá hạn tập trung ở nhóm hàng hoá thành phẩm (riêng thuế xuất khẩu, nợ quá hạn chủ yếu từ nhóm hàng hoá nguyên vật liệu, sản phẩm thô).
Những nhóm giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn
Trước tình hình diễn biến kinh tế vĩ mô 4 tháng đầu năm 2012 vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và các doanh nghiệp cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển sản xuất kinh doanh, theo Bộ tài chính, song song với các giải pháp về tiền tệ, tín dụng thì cần phải có những giải pháp tài chính để kịp thời tháo gỡ, duy trì và phát triển sản xuất.
Theo đó, các giải pháp cụ thể bao gồm:
Nhóm giải pháp điều hành vĩ mô: Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, tuỳ theo tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng và chỉ số giá tiêu dùng để hạ nhanh lãi suất huy động và lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Cơ cấu lại tín dụng, ưu tiên vốn tín dụng phục vụ các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, DNNVV, sử dụng nhiều lao động…, một số phân khúc trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh bất động sản (nhà để ở, phát triển nhà ở trong khu đô thị…).
Đáng chú ý, sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng và thị trường chứng khoán thông qua phát triển thị trường chứng khoán và tiết kiệm giảm 5% - 10% chi phí quản lý ở 5 Ngân hàng thương mại Nhà nước và Ngân hàng thương mại cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối để tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay…
Nhóm giải pháp về chi tiêu công: Các Bộ, ngành, địa phương khẩn trương thực hiện phân bổ, giao kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn trái phiếu chính phủ, vốn và kinh phí các Chương trình mục tiêu quốc gia đến từng dự án; tìm nguồn vốn bổ sung vốn đối ứng cho các dự án ODA; triển khai các giải pháp đẩy nhanh đầu tư xây dựng cơ bản; đôn đốc để đảm bảo đủ điều kiện triển khai thực hiện các dự án. Bổ sung thêm 1.000 tỷ đồng (nâng tổng mức năm 2012 lên 4.000 tỷ đồng) cho vay đầu tư kiên cố hoá kênh mương, phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản và làng nghề ở nông thôn (tổng mức cả năm 2012 là 4.000 tỷ đồng). Thực hiện quản lý, cấp phát thanh toán vốn đầu tư, vốn trái phiếu Chính phủ, chương trình mục tiêu quốc gia theo đúng quy định và kịp thời cho các dự án phù hợp với kế hoạch và tiến độ thực hiện; tạm ứng vốn theo đúng quy định…
Nhóm giải pháp về thuế và phí: Gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT trong 06 tháng đối với số thuế GTGT phải nộp của tháng 4, tháng 5 và tháng 6 năm 2012 của các doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 08/2011/QH13 và đang thực hiện nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. Giảm 50% tiền thuê đất phải nộp của năm 2012 theo cơ chế quy định tại Quyết định số 2093/QĐ-TTg đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ đang được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm mà năm 2012 phải xác định đơn giá thuê đất theo quy định tại Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 03/12/2010. Gia hạn số tiền thuế TNDN còn nợ chưa nộp NSNN của năm 2011 trở về trước trong 09 tháng của các doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 08/2011/QH13 và doanh nghiệp sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất, vận tải đường thuỷ (bao gồm cả vận tải thuỷ nội địa và vận tải biển), sản xuất thép, xi măng. Miễn thuế môn bài năm 2012 đối với các hộ đánh bắt hải sản và hộ sản xuất muối. Gia hạn thời hạn nộp tiền sử dụng đất trong thời gian tối đa 12 tháng kể từ ngày phải nộp theo thông báo của cơ quan thuế đối với số tiền sử dụng đất đến hạn phải nộp của các chủ đầu tư dự án do có khó khăn về tài chính nên chưa nộp tiền sử dụng đất.
Đặc biệt, lùi thời hạn thu phí bảo trì đường bộ đối với ô tô và xe máy đến hết 31/12/2012 nhằm giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp (giảm chi phí đầu vào) và người dân. Giảm 30% thuế TNDN phải nộp năm 2012 của các doanh nghiệp quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 08/2011/QH13…
Nhóm giải pháp điều hành giá và trợ cấp: Tăng cường hiệu quả công tác quản lý, điều hành giá, nhằm đảm bảo giá cả hàng hoá, đặc biệt là giá nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, phản ánh đúng giá trị thị trường, hạn chế tình trạng đầu cơ, găm giữ hàng hoá nhằm thao túng thị trường giá cả. Rà soát và thực hiện trợ giá xăng dầu, điện đầu vào cho một số lĩnh vực sản xuất/đối tượng (ngư dân đánh bắt xa bờ, sản xuất nông nghiệp, hộ nghèo) nếu những mặt hàng này tiếp tục có biến động lớn về giá…
Nhóm cải cách thủ tục hành chính thuế: Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế và hải quan nhằm giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế cho doanh nghiệp. Cụ thể: rút ngắn thời gian thông quan; Tăng cường công tác khai thuế điện tử qua mạng; Tiếp tục triển khai nộp thuế qua hệ thống ngân hàng; Đẩy mạnh tự động hóa quy trình tiếp nhận giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính thuế và hải quan thông qua các chương trình hiện đại hóa và thuế điện tử; Phấn đấu giảm 10-15% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính thuế, hải quan cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.
Quỳnh Anh