Áp lực xanh hóa và cơ hội tăng trưởng ngành giấy

10:27:54 | 2/2/2026

Ngành giấy và bột giấy đóng vai trò không thể thiếu trong nền kinh tế toàn cầu, phục vụ nhu cầu từ sản xuất bao bì, in ấn, đến các sản phẩm tiêu dùng hàng ngày. Trong bối cảnh nhu cầu về sản phẩm thân thiện với môi trường và tiêu chuẩn xuất khẩu xanh ngày càng cao, ngành giấy và bột giấy Việt Nam đang nổi lên như lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng cũng nhiều thách thức. Phóng viên đã có cuộc trao đổi với Thạc sĩ Hoàng Trung Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam (VPPA) xung quanh vấn đề này.


Ông Hoàng Trung Sơn - Chủ tịch Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Giấy Đồng Tiến tại sự kiện Vietnam Paper Day 2025

Ông đánh giá thế nào về triển vọng tăng trưởng, những cơ hội và thách thức của ngành giấy và bột giấy Việt Nam trong bối cảnh thị trường toàn cầu biến động mạnh và áp lực xanh hóa ngày càng lớn?

Trong 10 năm qua, ngành công nghiệp giấy và bột giấy Việt Nam đã có nhiều cơ hội phát triển nhanh, đạt mức tăng trưởng bình quân 2 con số mỗi năm. Xin được trích dẫn một vài số liệu do VPPA tổng hợp:

Tổng sản lượng sản xuất năm 2025 đạt 6,34 triệu tấn. Tổng tiêu dùng giấy năm 2025 ước đạt 7,77 triệu tấn, tăng 10,8% so với năm 2024. Trong đó, giấy bao gói và bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiêu thụ đạt 6,19 triệu tấn, tăng 12,6% so với năm 2024, được thúc đẩy bởi sự tăng trưởng của thương mại điện tử, khối lượng logistics gia tăng và ưu tiên của người tiêu dùng đối với bao bì không chứa nhựa. Tiếp theo là giấy tissue: tiêu thụ tăng 8,7%, đạt 423 nghìn tấn, phục vụ nhu cầu tiêu dùng sinh hoạt và doanh nghiệp.

Dự báo đến năm 2030, tổng công suất giấy và bìa giấy Việt Nam tăng lên khoảng 10,9 triệu tấn, trong đó riêng giấy bao bì tăng từ 6,34 lên 9,7 triệu tấn, chiếm gần 90% tổng công suất tăng thêm. Như vậy, tăng trưởng công suất danh nghĩa của ngành giấy Việt Nam về bản chất là tăng trưởng công suất giấy bao bì, với mức độ phụ thuộc cao vào khả năng bảo đảm nguồn nguyên liệu.

Năm 2025, tổng lượng giấy nhập khẩu đạt 2,75 triệu tấn, trong khi xuất khẩu giấy đạt 1,49 triệu tấn. Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy năm 2024 đạt hơn 2 tỷ USD, tăng trưởng trung bình từ 10 - 12%/năm trong 5 năm qua. Ngành bao bì giấy được dự báo đạt quy mô 3,5 tỷ USD vào năm 2026, nhờ xu hướng thay thế bao bì nhựa và sự phát triển của thương mại điện tử.

Cơ hội cho ngành giấy phát triển còn thể hiện ở quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong đổi mới thể chế, tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp, coi trọng vai trò kinh tế tư nhân với kỳ vọng GDP tăng trưởng trung bình là trên 10% trong thập kỷ tới. Theo đó, nhu cầu về giấy bao bì và giấy vệ sinh cũng sẽ tăng trưởng hai con số; cơ sở hạ tầng (đặc biệt là giao thông và năng lượng) đang được quan tâm đầu tư mạnh, đồng bộ đáp ứng cho nhu cầu phát triển của đất nước, giúp giảm chi phí logistics hiện đang rất cao đối với ngành giấy.

Tuy nhiên, ngành giấy cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức, khi kinh tế thế giới có nhiều biến động khó dự báo, đặc biệt là chính sách mới của chính quyền Mỹ và cạnh tranh địa chính trị, sự phát triển của ngành giấy Ấn Độ và sự suy giảm nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc, các yêu cầu môi trường ngày càng khắt khe, đặc biệt từ EU với các quy định như EUDR (Quy định chống phá rừng của EU), PPWR (Quy định về bao bì và chất thải bao bì của EU). Bên cạnh đó, áp lực xanh hóa ngày càng cao với yêu cầu về CBAM, ESG, giảm phát thải carbon, minh bạch chuỗi cung ứng để vào các thị trường xuất khẩu lớn như: EU, Mỹ, Nhật,… đã gây nhiều áp lực lên ngành giấy Việt Nam.

Đồng thời, nguy cơ về mất cân đối, thiếu hụt nguồn nguyên liệu cũng đang ngày càng rõ với việc các nguồn giấy thu hồi ngày càng khan hiếm do xu hướng phát triển tái chế tại chỗ và bị kiểm soát bởi các quy định mới và các tập toàn lớn, trong khi Việt Nam hiện đang phải nhập khẩu hơn 3 triệu tấn giấy thu hồi hàng năm và còn tiếp tục tăng do thu gom nội địa năm 2025 đạt gần 3,6 triệu tấn, mới chỉ đáp ứng gần 56% nhu cầu với tỷ lệ thu hồi tăng từ 46% (năm 2021) lên 58% (năm 2024), nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với kỳ vọng. Với hệ số tiêu hao nguyên liệu tái chế cao, trung bình sản xuất 1 tấn giấy bao bì cần khoảng 1,1 - 1,3 tấn giấy phế, tốc độ gia tăng nhu cầu nguyên liệu còn cao hơn tốc độ tăng sản lượng. Nhập khẩu bột giấy năm 2025 cũng tăng mạnh 50%, đạt 638.297 tấn so với 425.485 tấn năm 2024. Điều này phản ánh việc các nhà sản xuất giấy trong nước vẫn phải phụ thuộc nhiều vào nguồn cung nhập khẩu để bù đắp cho thiếu hụt nguyên liệu.

Ngoài ra, chi phí vận chuyển và logistics trong nước hiện cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực và việc huy động vốn đầu tư còn nhiều khó khăn do phần lớn các doanh nghiệp giấy Việt Nam chưa IPO và vẫn còn quan điểm phải có tài sản thế chấp, cũng như quan ngại rủi ro của các ngân hàng,… cũng là thách thức cho sự phát triển của ngành giấy.


Ông Hoàng Trung Sơn (thứ hai từ phải qua) cùng chủ tịch hiệp hội giấy các nước tại Hội nghị Công nghiệp Bột giấy và Giấy châu Á lần thứ 8 (APPIC 2025)

Ngành giấy và bột giấy giữ vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống và kinh tế, nhưng lại phát sinh nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Ông đánh giá như thế nào về khả năng thực hiện chuyển đổi kép của ngành giấy để đáp ứng mục tiêu xanh - bền vững, vừa đẩy nhanh ứng dụng công nghệ số trong quản lý và sản xuất?

Ngành giấy và bột giấy là ngành tiêu thụ khá nhiều năng lượng (điện, hơi nước) và nước sạch, do đó cũng phát thải ra nhiều nước thải và khí thải nên thường bị coi là ngành có nhiều tác động tiêu cực đến môi trường, đặc biệt là tại Việt Nam thời gian qua, khi có nhiều doanh nghiệp nhỏ không đầu tư nghiêm túc, đầy đủ cho công tác bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên.

Tuy nhiên, dưới góc nhìn khác như tôi đã nhiều lần trình bày, ngành giấy và bột giấy là ngành phù hợp tự nhiên với kinh tế tuần hoàn do: (i) Nguyên liệu sản xuất chính là dăm gỗ khai thác từ rừng trồng (tái tạo được và hấp thụ lại khí CO2); (ii) sản phẩm sau sử dụng được thu gom và tái chế với tỷ lệ rất cao (lên tới trên 80% ở các nước phát triển), đồng thời có thể tự phân hủy nhanh trong môi trường tự nhiên; (iii) việc tái chế sản phẩm giấy góp phần giảm phát thải và tiết kiệm năng lượng rất nhiều. Chính vì thế, hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đều có chính sách khuyến khích sử dụng sản phẩm giấy thay thế các sản phẩm nhựa sử dụng một lần. Các doanh nghiệp ngành giấy đã và đang rất tích cực triển khai các giải pháp tiết kiệm tài nguyên như sản xuất sản phẩm giấy có định lượng thấp, độ trắng phù hợp, áp dụng số hóa, công nghệ mới, tự động hóa trong hoạt động sản xuất nhằm tiết giảm tối đa mức tiêu thụ năng lượng, nước sạch, đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và giảm phát thải.

Chính phủ cũng đã công bố mục tiêu về kinh tế xanh/tuần hoàn, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đến năm 2030 và 2045. Việc thực hiện chuyển đổi kép không chỉ là xu hướng mà còn là cơ hội và đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp ngành giấy. Hơn nữa, ngành giấy còn có thị trường rất rộng và hợp tác với nhiều ngành như lâm nghiệp, nông nghiệp, hóa chất, in, bao bì và chế tạo thiết bị.

Khả năng chuyển đổi xanh trong ngành giấy có thể được thực hiện thông qua các giải pháp như: sử dụng năng lượng tái tạo (điện mặt trời áp mái, nhiên liệu sinh khối và từ chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất), các giải pháp lưu trữ, thu hồi nhiệt dư và sử dụng năng lượng hiệu quả cùng với triển khai thực hành ESG,…

Đối với chuyển đổi số và ứng dụng AI, các nhà máy sản xuất giấy có thể thực hiện số hóa, tối ưu hóa bằng IoT (Internet of Things) kết hợp AI & phân tích dữ liệu trong quy trình sản xuất, vận hành, kiểm soát tối ưu tiêu hao năng lượng, bảo trì chủ động & quản lý hiệu suất thiết bị, quản lý chất lượng & môi trường; quản lý chuỗi cung ứng & logistics xanh, xử lý & tuần hoàn nước,… Tóm lại, có thể xây dựng một hệ thống quản trị tổng thể (Digital Twin), trong đó mô phỏng dây chuyền số - kết nối ERP - MES - SCADA - IoT để có thể tối ưu toàn diện quy trình.

Trong 5 năm qua, Hiệp hội giấy và bột giấy Việt Nam cũng đã triển khai nhiều chương trình và sáng kiến nhằm hướng tới phát triển bền vững và giảm phát thải như thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, đào tạo nhân sự cho thực hành ESG, nâng cao năng lực cải tiến công nghệ, kiểm kê và giảm phát thải khí nhà kính,...

Việc chuyển đổi kép không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, mà đòi hỏi sự nỗ lực từ tất cả các bên liên quan, từ các doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước đến người tiêu dùng trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng. Doanh nghiệp cần thay đổi tư duy trong quản lý sản xuất, đầu tư vào công nghệ tái chế tiên tiến. Cùng với đó, Chính phủ cũng cần tạo ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ để thúc đẩy và khuyến khích các sáng kiến bền vững.


Ông Hoàng Trung Sơn (thứ hai từ phải qua) tham dự một sự kiện của ngành giấy

Theo ông, đâu là những giải pháp trọng tâm mà cơ quan quản lý cần triển khai để hoàn thiện chính sách và thúc đẩy ngành giấy Việt Nam phát triển theo hướng xanh và bền vững trong giai đoạn số hóa thời gian tới?

Để đạt được các mục tiêu về phát triển bền vững và xanh hóa, số hóa ngành giấy, trong giai đoạn tới, ngoài sự nỗ lực, chủ động từ các doanh nghiệp, Chính phủ cần cập nhật, phổ biến rộng rãi và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tiếp nhận và ứng dụng chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện môi trường theo hướng bền vững nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn về phát triển bền vững và tăng xanh.

Trên cơ sở đó, tiến hành rà soát và tham khảo các yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế để xây dựng cũng như cập nhật định kỳ các quy chuẩn và định mức ngành liên quan đến chất thải, mức tiêu thụ năng lượng, lượng nước sử dụng, vật liệu và hóa chất trong sản xuất giấy; khuyến khích nghiên cứu các loại vật liệu và hóa chất mới có khả năng tái tạo hoặc có nguồn gốc tự nhiên nhằm từng bước thay thế những vật liệu kém bền vững, dựa trên phân tích vòng đời sản phẩm; hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tiếp cận và đạt các chứng nhận về tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và các yêu cầu của thị trường xuất khẩu mục tiêu.

Xây dựng các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật và đơn vị nghiên cứu nhằm đồng hành cùng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong hoạt động R&D; tăng cường năng lực cho các trung tâm và phòng thí nghiệm chuyên ngành để đủ điều kiện nghiên cứu, kiểm định chất lượng sản phẩm theo chuẩn quốc tế, chú trọng các tiêu chí an toàn và sinh thái của ngành; đồng thời rà soát hệ thống phòng thí nghiệm hiện có để xem xét đầu tư trọng tâm và phát triển một số đơn vị chuyên ngành chủ lực.

Thêm vào đó, cần có chính sách hỗ trợ: (i) Nâng cao hiệu quả thu gom giấy phế nội địa thông qua phân loại tại nguồn và chuẩn hóa chất lượng, kết hợp với các chính sách hỗ trợ và miễn thuế cho hoạt động thu gom; (ii) Tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng kinh tế tuần hoàn với sự liên kết chặt chẽ giữa nhà sản xuất, người sử dụng và hệ thống thu hồi, thực thi hiệu quả luật về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR); (iii) Tạo điều kiện thuận lợi trong việc nhập khẩu nguồn giấy phế liệu (thu hồi) làm nguyên liệu sản xuất nhằm kết hợp hợp lý giữa giấy thu gom nội địa, giấy phế liệu nhập khẩu và bột giấy sản xuất trong nước; (iv) Điều tiết tăng trưởng công suất gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm cân đối cung - cầu trong trung cũng như dài hạn.

Những nỗ lực này, nếu được triển khai đồng bộ và lâu dài, sẽ tạo nền tảng vững chắc để ngành giấy Việt Nam chuyển mình theo hướng xanh hơn, hiện đại hơn, phát triển bền vững và đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế tiên tiến.

Trân trọng cảm ơn ông!

Quốc Hưng (Vietnam Business Forum)