09:57:51 | 5/6/2012
Theo số liệu thống kê, thương mại song phương giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ đã tăng đáng kể trong mười năm qua: từ 1,5 tỷ đô la Mỹ trong năm 2001, khi Hiệp định thương mại song phương (BTA) có hiệu lực (tháng 12/2001), đến 9,7 tỷ đô la Mỹ vào năm 2006, khi Việt Nam gia nhập WTO và Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn với Hoa Kỳ (tháng 12/2006); và hơn 22 tỷ đô la Mỹ vào năm 2011. Tuy nhiên, theo Phòng thương mại Hoa Kỳ tại VN- AmCham, các nhà đầu tư Mỹ đang phải đối mặt với sự đình trệ trong quá trình chuyển giao từ FDI liên quan đến Hoa Kỳ bởi “các nhà máy đối tác”…
Theo Amcham, ngoài việc tăng trưởng mạnh mẽ trong lĩnh vực thương mại, sự gia tăng khoảng 17% trong năm 2011 so với năm 2010 cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các công ty Mỹ, vẫn đánh giá một cách tích cực về cơ hội tại Việt Nam. Các nhà đầu tư FDI hiện tại đã tăng giá trị đầu tư của họ tại Việt Nam lên 3.1 tỷ đô la Mỹ trong năm 2011, tăng 1.7 lần so với năm 2010, điều này cho thấy sự hài lòng của họ dành cho môi trường đầu tư tại Việt Nam.

Amcham cho biết, một số tập đoàn đa quốc gia hàng đầu, tập trung vào ngành hàng tiêu dùng nhanh, đã đầu tư thêm từ 200 – 500 triệu đô la Mỹ từ mỗi công ty vào Việt Nam, là thị trường phát triển nhanh nhất trên thế giới.
Hơn nữa, FDI của Mỹ vào ngành sản xuất hiện đại tạo ra giá trị thăng dư cao cũng đang tăng, dẫn đầu là việc đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ của Intel cho nhà máy lắp ráp và kiểm tra tại Khu Công Nghệ Cao Sài Gòn1 và một số đầu tư nhỏ lẻ khác. Hiện nay, AmCham đã thành lập “Ủy ban sản xuất” với khoảng 20 công ty thành viên tham gia đến từ các ngành có liên quan đến “sản xuất hiện đại”. Những công ty này đã rất thành công và sắp tới còn hơn thế nữa: hiện đang có một công ty đã đến Việt Nam cách đây 5 năm có số lượng nhân công gần 1.000 người, giá trị xuất khẩu khoảng 50 triệu đô la Mỹ / năm, công ty này đang tìm vùng đất mới để mở rộng sản xuất vì họ kỳ vọng tình hình sản xuất kinh doanh của họ sẽ tăng gấp 3 lần trong 3 – 5 năm tới. Ngoài ra, công ty hội viên Amcham - Jabil cũng vừa mới làm lễ động thổ để xây dựng nhà máy với giá trị đầu tư 70 triệu đô la Mỹ tại Khu công nghệ cao Sài Gòn, sau 5 năm hoạt động thành công tại một nhà máy được thuê lại.
Tuy nhiên, theo Amcham, các nhà đầu tư Mỹ dường như đang phải đối mặt với sự đình trệ trong quá trình chuyển giao từ FDI liên quan đến Hoa Kỳ bởi “các nhà máy đối tác”, chủ yếu từ Hàn Quốc và Đài Loan, v.v…vào hoạt động tại Việt Nam trước và sau khi Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (có hiệu lực vào tháng 12 năm 2001) để sản xuất hàng tiêu dùng có giá trị thặng dư thấp, đến “Làn song thứ Ba” của các công ty FDI Hoa Kỳ trong các nhà máy “sản xuất hiện đại” chuyên sản xuất những sản phẩm có giá trị thặng dư cao để xuất khẩu sang Hoa Kỳ và các thị trường quốc tế.
Theo Cục Đầu Tư Nước Ngoài, trong năm 2011, tổng số vốn dự án đầu tư mới đăng ký và dự án đăng ký tăng vốn đầu tư đạt 14.7 tỉ đô la Mỹ, giảm 26% so với năm 2010. Một lưu ý tích cực là dự án tăng vốn đầu tư đạt 3.1 tỉ đô la Mỹ, tăng 1.65 lần so với cùng kỳ năm 2010 (1.89 tỉ), điều này cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao môi trường đầu tư của Việt Nam; tuy nhiên, dự án FDI mới giảm, giảm khoảng 35% so với cùng kỳ năm 2010.
Vào tháng 2/2012, Chỉ số niềm tin FDI, được công bố bởi Công ty tư vấn quản lý toàn cầu AT Kearney dựa trên khảo sát hàng năm của các công ty toàn cầu với hơn 2 nghìn tỷ đô la Mỹ trong doanh thu hàng năm, cho thấy Việt Nam là quốc gia châu Á duy nhất rớt hạng trong bảng xếp hạng, từ vị trí thứ 12 trong năm 2010 xuống vị trí thứ 14 vào năm 2011. Trong khi đó, Indonesia đã tăng hạng từ vị trí thứ 20 trong năm 2010 lên vị trí thứ 9 năm 2011 và vốn đầu tư nước ngoài đạt mức kỷ lục 19,3 tỷ đô la Mỹ, gấp đôi năm trước. Ngoài ra, Malaysia cũng tăng hạng từ vị trí thứ 21 lên vị trí thứ 10. Như vậy, Việt Nam đang có một số đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ về FDI trong ASEAN.
Theo đánh giá, nguy cơ này có thể không chỉ đem đến cho Việt Nam sự thất bại trong quá trình tiến lên hơn nữa đối với quốc gia có thu nhập mức trung bình, “sản xuất hiện đại”và kinh tế dịch vụ mà còn cho thấy VN không có khả năng cạnh tranh ngay cả trong vai trò “nhà máy đối tác”, sản xuất các sản phẩm tiêu dùng có giá trị thặng dư thấp so với những thị trường mới nổi lên và sản phẩm cơ bản. Điều này có thể dẫn đến một sự mất mát FDI hiện tại và hàng triệu công ăn việc làm tại Việt Nam.
Quỳnh Anh