Tạo động lực phát triển khoa học công nghệ

11:31:30 | 18/6/2012

Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ vừa tổ chức hội thảo "Đầu tư và cơ chế tài chính phát triển khoa học, công nghệ”. Phóng viên Tạp chí Vietnam Business Forum đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ - ông Nguyễn Quân về chủ đề này. Anh Phương thực hiện.

Bộ trưởng Nguyễn Quân đánh giá, thực tế ngân sách dành cho hoạt động khoa học hiện nay vẫn còn rất khiêm tốn. Ngoài huy động vốn nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước thì các hoạt động đầu tư cho khoa học và công nghệ vẫn chưa huy động được nguồn lực của doanh nghiệp và xã hội. Trong khi đó, nhiều quốc gia trên thế giới có mức đầu tư từ xã hội cho khoa học và công nghệ cao gấp 5-10 lần đầu tư ngân sách. Nói lên thực tế này để thấy nguồn lực đầu tư khoa học công nghệ của Việt Nam không chỉ thiếu về lượng mà còn yếu cả về khả năng huy động các nguồn lực xã hội, doanh nghiệp khác. Cũng theo đó, trong chiến lược đầu tư cho khoa học và công nghệ giai đoạn 2003-2010 mục tiêu đặt ra phải đạt 1,5% năm 2020 đạt 2% GDP. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay con số này mới chỉ đạt 1%, trong khi đó, quá nửa là từ ngân sách nhà nước còn lại từ doanh nghiệp.

Vậy theo Bộ trưởng đâu sẽ là những giải pháp để đổi mới hoạt động đầu tư và tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế tài chính cho sự nghiệp phát triển khoa học công nghệ tại VN?

Theo tôi, VN cần phải tập chung vào 7 nhóm giải pháp lớn nhằm đổi mới và tháo gỡ những vướng mắc về cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học công nghệ là: Cần huy động và đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho khoa học và công nghệ. Tiếp tục đảm bảo bố trí đủ nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ. Ban hành các chính sách đột phá để tăng cường đầu tư từ khu vực tư nhân; đổi mới cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước phát triển khoa học và công nghệ; đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị khoa học và công nghệ công lập; hoàn thiện hệ thống các quỹ phát triển khoa học và công nghệ, đặc biệt là các quỹ khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp; tăng cường, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước; tăng cường, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình việc sử dụng ngân sách nhà nước; đổi mới căn bản việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, tăng cường nguồn nhân lực cho khoa học và công nghệ, xây dựng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

Hiện tại mỗi một địa phương lại có một cơ chế riêng dành cho phát triển khoa học công nghệ theo kiểu mạnh ai nấy làm mà thực sự chưa có sự một mô hình đầu tư bài bản.?

Trong những năm qua, việc đầu tư cho khoa học công nghệ vẫn chủ yếu được cung cấp từ nguồn ngân sách nhà nước do vậy chịu rất nhiều ràng buộc của quy chế tài chính của ngân sách. Có nhiều điểu khoản rất bất cập song chậm được thay đổi chính lý cho phù hợp. Cụ thể, như nội dung, định mức và thủ tục chi còn nhiều bất cập. Nhiều nội dung chi quan trọng chưa được quy định trong văn bản nên có nhiều nội dung chưa được thanh quyết toán như: Thuê chuyên gia, đăng ký sáng chế hoặc công bố quốc tế, chi cho dự phòng trong bối cảnh lạm phát cao, chi cho tuyên truyền kết quả nghiên cứu... Thực tế, hiện lương tối thiểu đã tăng hơn 2 lần, nhiều biến động khác về giá cả, trang thiết bị công nghệ, nhưng các định mức chi vẫn chưa được điều chỉnh.

Ngoài ra, một thực tế đáng buồn khác là cuộc sống người làm khoa học hiện còn gặp phải rất nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng có nhiều đề tài chất lượng không cao, Hội đồng khoa học vẫn nghiệm thu, thanh toán, nhưng tính ứng dụng rất thấp. Chính thực trạng này đặt ra cho các nhà quản lý cần phải thay đổi quan điểm đầu cho tư khoa học công nghệ không chỉ là chú trọng đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật mà quan trọng hơn là đầu tư con người để sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất cho khoa học, đó mới là yếu tố phát triển thành công của khoa học công nghệ. Có thể thấy, vấn đề của việc nghiên cứu khoa học hiện nay ở Việt Nam không chỉ là cơ sở vật chất mà là cơ chế để thu hút nhân tài thật sự , có những tập thể nghiên cứu mạnh.

Theo ông, trước mắt nguồn lực đầu tư cho khoa học công nghệ cần giải quyết thế nào?

Một ví dụ điển hình như cách làm hiệu quả và khá thành công của TP. HCM. Với nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước thành phố luôn chú trọng ngân sách nhất định cho nghiên cứu phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn, đồng thời chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Trong quản lý khoa học, TP.Hồ Chí Minh luôn coi trọng mối liên kết sản phẩm đầu ra của công trình khoa học bằng cách tạo dựng môi trường liên kết giữa doanh nghiệp với các cơ quan nghiên cứu. Luôn có cơ chế đặt hàng, có các tiêu chí tương đối rõ, xác định giá trị ứng dụng đề tài. Về tiêu chí huy động nguồn lực, luật thuế quy định được trích tối đa 10% lợi nhuận trước thuế cho khoa học công nghệ. Song nhiều doanh nghiệp không trích vẫn không sao. Do đó kinh nghiệm của TP HCM là nên quy định các doanh nghiệp phải trích tối thiểu 5% cho nghiên cứu khoa học. Nếu điều này được nhiều doanh nghiệp hưởng ứng thì nguồn vốn dành cho khoa học công nghệ sẽ khá dồi dào.

Thứ trưởng Bộ Tài chính - bà Nguyễn Thị Minh

VN cần sớm hoàn thiện các quỹ phát triển khoa học công nghệ. Cụ thể, xây dựng chức năng nhiệm vụ của Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước, thực hiện nhiệm vụ cho vay và bảo lãnh vốn vay; Nghiên cứu sửa đổi các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp trích lập và sử dụng có hiệu quả Quỹ KH&CN; Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ kết quả hoạt động khoa học công nghệ, đánh giá nghiệm thu chất kết quả nghi

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu

Muốn ngành khoa học công nghệ Việt Nam phát triển thì việc phải có nguồn vốn đầu tư không những đủ mà phải lớn. Trong đó, cần tập chung vào các lĩnh vực chương trình trọng điểm, định hướng khoa học cụ thể. Ngoài ra, cũng cần có sự phân loại và chọn lọc một số Viện, trường hoạt động có hiệu quả để tập chung đầu tư tạo thành mô hình điểm có khả năng cạnh tranh về trình độ khoa học trong khu vực.