Gỡ mối bòng bong nợ xấu

09:38:20 | 1/8/2012

Với con số 10% trên tổng dư nợ đã là nợ xấu theo công bố của Thống đốc NHNN, thì người ta nghĩ ngay đến một con số tuyệt đối của số nợ xấu đó đã là gần 270 ngàn tỷ, tương đương 12% GDP.

Trước hết và công bằng mà xét thì nợ xấu là khả năng không trả được nợ ở những mức độ khác nhau của con nợ - Là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (TCTD) do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình theo cam kết.

Như vậy, địa chỉ và người gây ra nợ xấu trước hết phải là con nợ. Tuy nhiên, theo những bài học nhãn tiền từ Mỹ trong cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế năm 2008 thì chủ nợ (TCTD) cũng tiếp tay gây ra nợ xấu, do cho vay dưới chuẩn và năng lực quản trị món vay của TCTD theo dòng tiền, theo tính lỏng cùng giá trị của tài sản đảm bảo món vay của con nợ và theo diễn biến của thị trường đã quá yếu kém. Ở Việt Nam thì chắc chắn nguyên nhân gây ra nợ xấu lớn như hiện nay, ngoài lý do chính đến từ con nợ và chủ nợ, thì còn bao gồm nhiều nguyên nhân khác được dồn tích từ nhiều năm qua.

Con nợ lớn nhất là các nhóm lợi ích

Thị trường vốn bị lái theo các mệnh lệnh hành chính chính sách, theo mệnh lệnh hành chính chỉ định và những ưu ái cho khu vực kinh tế Nhà nước. Thực tế các DNNN đang chiếm tới khoảng 40% tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng và gần 100% tổng đầu tư từ NSNN, nhưng có thể chiếm tới 70% nợ xấu của các ngân hàng. Theo Bộ Tài chính thì hiện có đến 30/85 tập đoàn và tổng Cty có tỉ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp trên ba lần, đặc biệt có 7 tập đoàn và tổng Công ty có tỉ số D/E (Dept Equity Ratio) trên 10 lần. Một tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu quá lớn!

Hầu như TCTD cổ phần nào cũng có những Công ty con, Công ty liên kết cũng như có sở hữu chéo đối với một số TCTD khác. Con nợ lớn nhất của các TCTD này lại thường là các nhóm lợi ích…Phần lớn nợ của các “Công ty sân sau” là có liên quan đến đống tồn kho bất động sản (BĐS) khổng lồ hiện nay. Trong báo cáo của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, tổng giá trị các khoản cho vay vào lĩnh vực BĐS và xây dựng của 10 ngân hàng có số dư nợ lớn nhất vào lĩnh vực này được thống kê là 147 nghìn tỷ, bằng khoảng 73% dư nợ BĐS được các ngân hàng báo cáo cuối năm 2011. Nếu so với con số điều chỉnh của Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, con số này chỉ là 42%. Tức là, nếu tính đúng và đủ trên cơ sở con số 348.000 tỷ đồng dư nợ BĐS (12,8% tổng dư nợ) mà Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia công bố, khoản dư nợ BĐS của 10 ngân hàng trên phải là 254.000 tỷ đồng, chứ không chỉ là 147.000 tỷ đồng. Nếu nợ xấu trong lĩnh vực tín dụng BĐS cũng theo báo cáo này ước tính khoảng 36%, thì riêng nợ xấu trong lĩnh vực này đã là 0,36x348 ngàn tỷ = 125,28 ngàn tỷ, chiếm khoảng 46,4% tổng nợ xấu toàn hệ thống! Còn lại 53,6% nợ xấu khác nằm rải rác ở các DN lớn và vừa là chính, trong đó chủ yếu là các DNNN và có liên quan đến DNNN. Đó là bản chất nợ xấu trước khi xử lý cần nhìn rõ để có những quan điểm phân loại và chủ động áp dụng các giải pháp thích hợp một cách minh bạch, thị trường và khách quan hơn.

Xử lý nợ xấu bằng cách nào?

Việc mà Nhà nước cần làm ngay là ban hành một bộ qui tắc khung cho cơ chế xử lý nợ xấu theo các nguyên tắc, quan điểm và giải pháp sau đây:

Nguyên tắc bao trùm của xử lý nợ xấu là không dùng Ngân sách Nhà nước cũng như không thể in tiền ra để mua nợ xấu cho con nợ - Bất kỳ con nợ đó là thể nhân, pháp nhân hay thành phần kinh tế nào.

Nguồn để xử lý nợ xấu phải theo nguyên tắc lấy thị trường nuôi thị trường bằng cách tạo ra thị trường nợ thứ cấp để sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính phi tiền tệ, công cụ tiền tệ và cả phương tiện phi vật chất như không gian, thời gian, kinh nghiệm và uy tín để tạo nguồn xử lý nợ xấu trong khi vẫn phải duy trì sự phát triển.

Về giải pháp, việc xử lý phải phân loại để có giải pháp thích ứng với từng loại nợ xấu. Các TCTD cần tiến hành xử lý nợ xấu theo thứ tự các giải pháp từ truyền thống đến sáng tạo mới như sau: Hai bên chủ nợ (TCTD) và con nợ trực tiếp đàm phán: giảm lãi, giảm một phần gốc, kéo dài một số thời gian, tìm bên bảo lãnh có thể vay thêm để đáp ứng vòng quay của vòng đời sản phẩm có tính khả thi; Thu hồi qua phát mại tài sản đảm bảo tùy theo tính lỏng của loại tài sản đảm bảo; Truy cứu trách nhiệm của khách hàng hay bên “A” của con nợ; Xem xét khả năng chuyển nợ của chủ nợ thành vốn góp/và hoặc đề xuất cơ chế mua trái phiếu của DN con nợ bằng chính số nợ để dùng thời gian đòi nợ theo kỳ hạn của trái phiếu; Bù đắp hay xóa nợ bằng nguồn dự phòng rủi ro nếu con nợ bất khả kháng; Một phần khác cũng có thể cùng con nợ dàn xếp/tìm bán cho doanh nghiệp cùng ngành nghề để liên danh và tạo nguồn trả nợ NH.

Có những món nợ do quá đặc thù, quá lớn và/hoặc đã sử dụng hết các giải pháp truyền thống mà chưa thể đòi được (đặc biệt rơi vào con nợ đang ôm BĐS), thì con nợ có thể bán nợ cho Công ty mua bán nợ của TCTD. Riêng những món nợ xấu mà TCTD cho vay trong mối quan hệ “liên doanh”, quan hệ "sân sau" hay quan hệ “cổ đông lớn”…thì nội vụ TCTD và các nhóm lợi ích phải tự chịu trách nhiệm.

Nếu món nợ này liên quan đến lợi ích quốc gia, lợi ích người gửi tiền và hết khả năng trụ vững thì cho phép phá sản chủ nợ và con nợ tùy theo mối nguy hiểm cũng như nguyên nhân đến từ phía nào.

Riêng việc xử lý nợ xấu thông qua Công ty mua bán nợ, đây là cơ chế rất thông thường của các nền kinh tế thị trường – Nơi mà Nhà nước, tư nhân hay bất kỳ thành phần kinh tế nào khác đều bình đẳng trước Pháp luật và đặc biệt là tài sản, nguồn lực của các thành phần chủ sở hữu đó đều đã được vốn hóa hoặc luôn được xếp hạng, định giá cập nhật theo thị giá. Kể cả nếu Ngân sách Nhà nước hay thậm chí NHTW có bỏ tiền ra mua nợ rồi thoái vốn cũng dựa hoàn toàn theo cơ chế thị trường và thông thường chỉ là “trạm cấp cứu ban đầu”, nhưng vẫn phải được tiên liệu trước là hòa vốn hoặc có lãi và được Quốc Hội phê chuẩn để luật hóa.

Tiến sĩ – Nguyễn Đại Lai – NHNN