11:38:57 | 7/8/2012
Nằm trong khuôn khổ chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Việt Nam) và Viện Nghiên cứu Phát triển Thái Lan; thực hiện dưới sự tài trợ của Tổ chức Oxfam, hội thảo “Cơ chế bảo trợ xã hội đối với sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ ở Việt Nam” vừa được tổ chức tại Hà Nội đã thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia và nhà quản lý trong và ngoài nước về lĩnh vực này.
Không có khả năng chống đỡ với các “ cú sốc”
Tiến sĩ Võ Trí Thành- Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, mục đích chính của nghiên cứu là đánh giá khả năng đóng góp của bảo trợ xã hội đối với việc khắc phục tổn tương và nghèo đói trong nông nghiệp ở Việt Nam, qua đó đưa ra một số chính sách nhằm giảm bớt rủi ro và cải thiện cuộc sống của người dân.
Ông Thành đánh giá, người nông dân rất dễ bị tổn thương do "nội năng" của họ thấp. Chương trình nghiên cứu này nhằm hiểu hơn được hành vi của người nông dân, hiểu hơn cách chống đỡ của họ đối với những "cú sốc" từ bên ngoài như giá cả tăng, thiên tai, dịch bệnh, không tiếp cận được với tín dụng hoặc gia đình có người thân bị ốm…

Theo nghiên cứu này, chính sách bảo trợ xã hội của Việt Nam chủ yếu tập hợp các chương trình hướng tới đảm bảo thu nhập tối thiểu, tiếp cận dịch vụ cơ bản và cải thiện khả năng đối phó với rủi ro. Chính sách bao gồm 3 tầng lưới: phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro.
Bằng phương pháp điều tra cộng đồng, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên đối với 580 hộ gia đình ở hai tỉnh khu vực duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long (Hà Tĩnh và Vĩnh Long) từ năm 2010. Đây là hai khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thiên tai và chịu sự biến đổi về khí hậu nghiêm trọng; thu nhập của các hộ gia đình chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo.
Khảo sát cho thấy, đối với các "sú sốc" từ bên ngoài thì người nông dân có nhiều cách phản ứng. Nếu là thiên tai thì thường phó mặc và không đưa ra biện pháp đối phó. Nếu là cú sốc về giá cả tăng thì tìm cách sống qua ngày, cắt giảm chi tiêu hoặc đi vay tiền từ người thân, bạn bè, các tổ chức tín dụng… Và điều phổ biến nhất là trông chờ vào chính sách của Nhà nước.
Cần thúc đẩy cơ chế bảo hộ
Theo thống kê của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thì đa số người dân ở nông thôn chưa tham gia vào bảo hiểm xã hội. Hiện nay, bảo hiểm xã hội có tỷ lệ tham gia thấp (khoảng 20%), trong đó khu vực tư nhân chỉ chiếm 2%, bảo hiểm thất nghiệp cũng chỉ chiếm 12,21% lực lượng lao động. Bảo hiểm y tế tuy có 57,4% dân số tham gia nhưng chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn nghèo nàn. Về trợ giúp xã hội thì đối tượng hưởng trợ cấp còn thấp (chỉ có 1,73% dân số), mức hỗ trợ thấp chỉ bằng ½ mức sống tối thiểu.
Theo nghiên cứu này, đa số các hộ gia đình ở nông thôn chưa tham gia vào bảo hiểm xã hội và cũng hạn chế tiếp cận với bảo hiểm xã hội tự nguyện. Hiện cũng chưa có biện pháp nào để giúp nhóm có thu nhập thấp và nhóm dễ bị tổn thương có thể tiếp cận với bảo hiểm xã hội.
Đáng chú ý, Tiến sĩ Thành cho biết, hiện nay, khung chính sách đối với hệ thống bảo trợ xã hội không rõ ràng, nhất là cho sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Đặc biệt là chưa có chính sách, biện pháp bảo trợ hiệu quả cho nông dân để đối phó với rủi ro.
Ngoài ra, theo bà Trần Bình Minh, đại diện nhóm nghiên cứu, dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng như đảm bảo lối sống lành mạnh, môi trường trong sạch, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe... vẫn còn chưa thích hợp và yếu kém. Đó là chưa nói đến sự bất bình đẳng trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm khác nhau. Việc tiếp cận bảo hiểm y tế vẫn còn là một thách thức cho những người dân đang sống trong các vùng có hoàn cảnh khó khăn.
Từ thực trạng trên, theo nhóm nghiên cứu, Việt Nam cần phải thúc đẩy cơ chế bảo trợ xã hội, mở rộng phạm vi và đối tượng thực hiện đến người già, hộ gia đình nghèo để khi gặp phải các tình huống này họ không bị rơi vào cảnh nghèo đói.
Ở cấp quốc gia, theo nhóm nghiên cứu, Việt Nam cần cải thiện việc thực thi các chính sách, trong đó các chiến lược quốc gia cần thực tế hơn đối với khu vực nông nghiệp và hệ thống bảo trợ xã hội; đồng thời cần đánh giá chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp.
Đối với địa phương, cần nâng cao năng lực, vai trò của các tổ chức địa phương trong việc cung cấp thông tin kịp thời nhằm đối phó với rủi ro về thiên tai; đồng thời cũng cần nâng cao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và tuyên truyền, chia sẻ kinh nghiệm đến từng người nông dân.
Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Thành, để cải thiện tình hình thì không chỉ trông chờ vào chính sách của Chính phủ, mà người nông dân cũng cần phải tự mình vượt qua khó khăn. Việc phối hợp giữa Chính phủ, các tổ chức xã hội, các hiệp hội và người nông dân cần chặt chẽ hơn, nhất là trong việc giải quyết các vấn đề rủi ro.
Mai Anh