Bắt bệnh doanh nghiệp Việt

11:46:17 | 6/9/2012

Mới đây, tại Hội nghị đầu tư 2012 nhiều chuyên gia kinh tế đã phân tích và chỉ ra những căn bệnh thâm căn của doanh nghiệp Việt Nam. Nổi bật trong đó chính là việc một bộ phận doanh nghiệp hiện nay lệ thuộc quá nhiều vào vốn ngân hàng, lạm dụng đòn bẩy tài chính và chạy theo lợi nhuận bằng cách ra sức đầu tư ngoài ngành...

Những lý do làm doanh nghiệp Việt yếu

Ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chính sách công, Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright đánh giá, hiện nay có quá nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng sống nhờ vào việc vay vốn của ngân hàng. Cụ thể, theo báo cáo tài chính quý II/2012 của 647 công ty phi tài chính niêm yết trên sàn chứng khoán, tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp này bằng 1,53. Ông Thành cho rằng đây là một tỷ lệ cao, hơn hẳn so với nhiều nước kể cả các nước phát triển lẫn các nền kinh tế mới nổi. Tỷ lệ này tại Mỹ năm 2011 là 1,2 , tại Trung Quốc là 1,06. Bên cạnh số doanh nghiệp lớn niêm yết trên sàn thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm đến 95% tổng số doanh nghiệp Việt Nam), cũng đang trong tình trạng phải chịu gánh nặng nợ lãi vay rất lớn. Đó là do các DN này mặc dù quy mô nợ không lớn nhưng do vốn chủ thấp nên tỷ lệ vay nợ của họ cũng rất cao.

Cũng theo ông Thành, trong tổng số 647 doanh nghiệp niêm yết (không tính các ngân hàng và công ty tài chính) thì nổi bật là hai khối doanh nghiệp ngành xây dựng và bất động sản là có tỷ lệ vay nợ cao nhất. Tổng nợ phải trả của nhóm ngành này đã gấp hơn 2 lần vốn chủ sở hữu. Một bức tranh tương phản khác mà ông Thành đưa ra là không chỉ các công ty niêm yết mà ngay cả các doanh nghiệp đầu tầu, các doanh nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, bất động sản cũng đang phải chịu gánh nặng nợ rất lớn và tỷ lệ nợ phải trả cao. Trường hợp của Tập đoàn Sông Đà có nợ phải trả gấp gần 9 lần vốn chủ, Tập đoàn phát triển Nhà và đô thị Việt Nam cũng có tỷ lệ nợ trên vốn chủ 6,36%.

Riêng về vấn đề tăng trưởng tín dụng chậm, ông Thành cho rằng đây cũng là phản ứng tự nhiên của nền kinh tế, bởi hiện nay VN buộc phải đối mặt với tình trạng thoái nợ diễn ra không chỉ ở doanh nghiệp mà cả ở các tổ chức tài chính. Theo đó, trong 7 tháng đầu năm 2012, tổng phương tiện thanh toán tăng 8,58% so với năm 2011, trong khi tín dụng cho nền kinh tế chỉ tăng 0,57%, tức gần như không tăng. Theo ông Thành: “Các nước sau khi bùng nổ tín dụng đều chuyển qua giai đoạn suy giảm tín dụng, gánh nặng nợ của doanh nghiệp, ngân hàng đều tăng cao”.

Ông Nguyễn Nam Sơn, thành viên Hội đồng Quản trị Công ty chứng khoán Thiên Việt, Giám đốc điều hành Quỹ đầu tư Vietnam Capital Partners thì cho rằng, nếu đưa ra các con số so sánh thì có thể thấy, các công ty bất động sản Việt Nam có mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính cao nhất châu Á. Chính điều này khiến sức chịu đựng và trụ vững của doanh nghiệp rất yếu ớt khi các ngân hàng Trung ương siết chặt cho vay do lo ngại nợ xấu, ông Sơn nói.

Theo ông Sơn, đó chính là những “cái chết đa ngành” từ việc quá lạm dụng việc đầu tư đa ngành chạy theo lợi nhuận của một bộ phận không nhỏ doanh nghiệp. Điển hình trong đó là trường hợp của Vinashin, Thủy sản Bình An… đều xuất phát từ hoạt động đầu tư trái ngành. Trong khi thực sự năng lực lõi về vốn, quản trị doanh nghiệp không có, lại phải ôm đồm quá nhiều các lĩnh vực đầu tư không phải chuyên môn nên việc gặp thất bại là tất yếu. Điều này lại càng rõ ràng hơn khi trong khoảng 7 năm trở lại đây, rất nhiều công ty lớn của Việt Nam đã liên tục mở rộng hoặc tham gia đầu tư vào lĩnh vực tài chính, ngân hàng, công ty chứng khoán và bất động sản. Chính những thực tế này nên có thể trong vòng 2 năm tới đây, sẽ có tới 90% các công ty chứng khoán phải đóng cửa; con số doanh nghiệp bất động sản sập tiệm sẽ còn tăng cao. “Muốn tồn tại họ phải nhanh chân sáp nhập để tăng quy mô và xây dựng năng lực cốt lõi”, ông Sơn dự báo.

Đâu là giải pháp

Theo chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, những khó khăn trên là căn bệnh chung không chỉ ở Việt Nam mà rất phổ biến trên thế giới. Nguyên nhân chính là do chính sách của chính phủ đã thiên về tăng trưởng, kéo theo đó là sự bành trướng của tín dụng và cách ứng xử của ngân hàng khi họ giảm thiểu quy trình quản lý rủi ro cộng với cách tìm lợi nhuận ngắn hạn của các doanh nghiệp dựa vào đồng tiền dễ dãi.

Giải pháp để chữa tận gốc căn bệnh này liên quan rất lớn đến chính sách kinh tế vĩ mô cũng như mục tiêu giữ nền kinh tế ở mức độ nào của Chính phủ. Trong đó giải pháp được mong chờ nhất chính là việc phải lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng và bản thân cách ứng xử của doanh nghiệp, phải tự biết thoái nợ. Kỹ thuật để xử lý vấn đề này là phải giải quyết thật nhanh song lại tránh không được đổ vỡ. “Hiện tại Chính phủ và các nhà hoạch định rất cần một sự nỗ lực, bình tĩnh, kiên trì song phải rất quyết liệt của cả ba bên là nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp”, ông Thành nhận định.

Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, thành viên Hội đồng Tư vấn Tiền Tệ Quốc gia chia sẻ, thường thì nhà nước lại hay mắc bệnh là tham lam về tăng trưởng. Nên đó cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến nền kinh tế chịu một số thiệt thòi trong thời gian vừa qua. Riêng về vấn đề đầu tư ngoài ngành, lấn sân sang các lĩnh vực không có chuyên môn sâu của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong thời gian qua, quan điểm của ông Tuyển là nhà nước cần phải có các biện pháp mạnh dứt điểm không cho phép đầu tư ngoài ngành dàn trải như thời gian qua. Ông Tuyển cũng lấy ví dụ từ nền kinh tế Hàn Quốc, sau khi gặp khủng hoảng kinh tế, chính phủ nước này đã cấm không cho các doanh nghiệp được đầu tư ngoài ngành, và họ cũng thu được những thành công nhất định.

Anh Phương