Ba kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2013

09:00:06 | 2/1/2013

Đến hẹn lại lên, thời điểm cuối năm Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế- xã hội quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) lại đưa ra những nhận định về kịch bản cho nền kinh tế trong năm tiếp theo trên cơ sở các nghiên cứu được đưa ra, cơ quan này cho rằng năm 2013 kinh tế Việt Nam có thể xảy ra một trong ba kịch bản tăng trưởng. Trong đó kịch bản có nhiều khả năng xảy ra nhất là tăng trưởng GDP Việt Nam sẽ ở mức 5,68%; CPI tăng 7,1%. Tuy nhiên kịch bản này đã nhận được những ý kiến phản hồi khác nhau.

Ba kịch bản kinh tế

Kịch bản 1 cho rằng, nếu kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng thấp, nợ công châu Âu chưa khắc phục được, Trung Đông vẫn tiếp tục bất ổn chính trị, kinh tế Nhật Bản và kinh tế Mỹ chưa được cải thiện…những vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới xuất khẩu của Việt Nam. Khi đó, tăng trưởng GDP là 5%, xuất khẩu tăng 12,8% và nhập siêu tăng 2,4%, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP là 29%.

Kịch bản 2, tăng trưởng GDP sẽ là 5,68% nếu nợ công châu Âu được khắc phục, xung đột chính trị thế giới giảm, kinh tế Mỹ và Nhật Bản phục hồi, thương mại toàn cầu tốt hơn năm 2012 khi đấy FDI vào Việt Nam sẽ tốt hơn, tỉ lệ vốn đầu tư/GDP là 30,5% và tăng trưởng xuất khẩu sẽ là 14,6%.

Kịch bản 3, kinh tế sẽ có bước đột phá, tăng trưởng GDP sẽ ở mức cao 6,34% nếu những vấn đề như nợ công Châu Âu được khắc phục cơ bản, kinh tế và thương mại thế giới tăng trưởng khá, trong nước khắc phục được tình trạng đình đốn sản xuất, kinh doanh và giải quyết được nợ xấu, đón bắt được xu hướng dịch chuyển dòng FDI từ Trung Quốc, Ấn Độ sang ASEAN, tăng trưởng xuất khẩu sẽ là 16,3%, nhập siêu 6,6%.

Những kiến nghị chính sách

Trên cơ sở những phân tích, đánh giá, Trung tâm Thông tin và dự báo kinh tế- xã hội quốc gia nghiêng về khả năng xảy ra kịch bản 2, đồng thời đưa ra những kiến nghị chính sách:

Thứ nhất: Chính phủ vẫn cần thiết duy trì ưu tiên ổn định vĩ mô, giữ lạm phát ở mức tương tự như năm 2012, thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, linh hoạt. Chú trọng triển khai các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế nhà nước. Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công.

Thứ hai: có giải pháp nhằm khắc phục tình trạng đình đốn sản xuất của các doanh nghiệp như thực hiện chính sách miễn giảm thuế, phí… hỗ trợ và thúc đẩy tiêu dùng nội địa, chú ý tập trung vào đối tượng thu nhập trung bình và thấp trong xã hội. Thực hiện các chính sách thu hút các nguồn vốn trong nước đưa vào sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng.

Thứ ba: có giải pháp phá băng thị trường bất động sản nhằm giải quyết vấn đề nợ xấu, nhất là nợ xấu trong hệ thống ngân hàng. Việc tái cơ cấu ngân hàng cần được thực hiện triệt để và quyết liệt, không chỉ nhằm giải quyết một phần vấn đề nợ xấu trong hệ thống ngân hàng mà quan trong hơn là làm lành mạnh hóa thị trường tín dụng, khơi thông nguồn vốn cho doanh nghiệp.

Thứ tư: thực hiện đồng bộ các giải pháp (nhất là những chính sách về đất đai, đầu tư…) nhằm tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn FDI từ các nước Trung Quốc, Ấn Độ…, vào các nước ASEAN, định hướng dòng vốn này vào những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, loại bỏ những dự án đầu tư với công nghệ cũ, lạc hậu…, cũng như giảm thiểu tác động tiêu cực của đầu tư FDI lên công đồng doanh nghiệp trong nước.

Thứ năm: từng bước thực hiện tái cấu trúc doanh nghiệp và thực hiện nghiêm túc, trong đó nhất là đối với các doanh nghiệp nhà nước nhằm giảm sự thất thoát lãng phí trong sử dụng vốn, tạo môi trường lành mạnh và bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.

Tuy nhiên, theo Luật sư Vũ Xuân Tiền, Ủy viên BCH Hội luật gia Hà Nội, việc cho rằng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2013 sẽ theo kịch bản 2 là thiếu sức thuyết phục, thiếu tính khả thi. Bởi lẽ, những biến động của kinh tế thế giới nằm ngoài tầm kiểm soát của Việt Nam. Hơn nữa, Việt Nam là một nền kinh tế có độ mở cao, bất kỳ sự biến động nào của kinh tế thế giới đều có tác động ngay tới kinh tế trong nước. Về các chính sách kinh tế trong nước, chính những kiến nghị của nhóm nghiên cứu đã cho thấy tính thiếu khả thi của dự báo. Bởi, những vấn đề cần giải quyết trong những kiến nghị đều thuộc tẩm vĩ mô của nền kinh tế, đã được nêu ra từ lâu nhưng tất cả mới dừng lại ở “đang nghiên cứu”, “mới triển khai” nên khó có thể trở thành hiện thực trong năm 2013. Chẳng hạn giải pháp phá băng thị trường BĐS; xử lý nợ xấu tại các ngân hàng thương mại; tái cấu trúc doanh nghiệp; tái cơ cấu đầu tư công… là những vấn đề lớn, đòi hỏi thời gian dài, chắc chắn không thể có kết quả trong năm 2013.

Chia sẻ với quan điểm này, bản báo cáo vừa công bố của Công ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (Vietnam Report) với tiêu đề “Kinh tế Việt Nam 2013 qua góc nhìn của doanh nghiệp hàng đầu” cho thấy có tới 50% lãnh đạo các doanh nghiệp thuộc top 1.000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhâp lớn nhất năm 2012 nhận định rằng tình hình hoạt động của doanh nghiệp của họ xấu hơn so với năm 2011. Cũng có tới 55% số doanh nghiệp được khảo sát cho rằng kinh tế sẽ không cải thiện nhiều trong năm 2013.

Cũng theo ông Vũ Xuân Tiền, tăng trưởng kinh tế của VN trong năm 2013 không thể theo kịch bản 2 và đương nhiên cũng không thể theo kịch bản 3. Kịch bản 1 dự báo tăng trưởng GDP ở mức 5% có nhiều khả năng sẽ trở thành hiện thực.

Đình Thanh