“Mở cửa” để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay

13:15:36 | 9/1/2013

Những tháng cuối năm 2012 nền kinh tế đã chứng kiến sự đình đốn, thua lỗ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của hàng loạt các doanh nghiệp. Việc tìm nguồn vốn tăng lực cho cộng đồng doanh nghiệp, tái cơ cấu, ban hành thêm nhiều các chính sách gỡ khó cho doanh nghiệp.... đang đặt ra nóng hổi trước thềm năm mới 2013. Để tìm câu trả lời, phóng viên Tạp chí Vietnam Busniess Forum đã có cuộc trao đổi với ông Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa xung quanh chủ đề trên. Anh Phương thực hiện.

Thực tế, sức khỏe” của cộng đồng doanh nghiệp đang có chiều hướng đi xuống, thể hiện bởi nhiều số liệu mới được công bố không mấy khả quan, ông đánh giá như thế nào tình hình hoạt động của các doanh nghiệp qua những con số này?

Hiện nay, về sức khỏe các doanh nghiệp- đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nếu nói về mặt số liệu thì đang có nhiều số liệu khác nhau. Trong khi Bộ Kế hoạch Đầu tư thông qua Tổng cục Thống kê đưa ra con số là 42.000 DN thì theo Phòng Công nghiệp Thương mại Việt Nam (VCCI) con số này là 100.000 DN bị giải thể. Hoặc qua số liệu của các hiệp hội ngành hàng trong đó có Hiệp hội DN nhỏ và vừa thì cũng có sự khác nhau vế số liệu. Tất nhiên cách cung cấp, cách thu thập số liệu là khác nhau. Vừa qua, có nhiều ý kiến phát hiện số liệu các DN mất đi, giải thể cũng chưa chính xác. Không phải là 42.000 DN, nếu cộng từ trước tới giờ thì con số ấy còn lớn hơn nhiều. Theo tôi, số liệu của Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) 100.000 DN tương đương với số 6 - 7 nghìn DN khoảng trên dưới 20% là có cơ sở hơn. Căn cứ vào khả năng cung ứng vốn ra, số liệu tồn kho ứ lại, khả năng tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng thì tình hình sản xuất kinh doanh, lưu thông, co hẹp sản xuất kinh doanh lại lớn hơn nhiều. Sự thực thì số lượng doanh nghiệp không tăng lên là bao nhiêu mà chỉ là lòng vòng ở các con số. Do đó khi những số liệu trên chưa đủ tin cậy, sát với thực tiễn thì cũng chưa nên vội vàng kết luận. Nếu muốn đánh giá chính xác cần phải có các tiêu chí đưa ra rõ ràng, phải có các cuộc khảo sát đánh giá, kết hợp với điều tra điển hình cũng như kết hợp đánh giá thực trạng của từng lĩnh vực. Đặc biệt là sự tham gia đóng góp của các hiệp hội ngành hàng, các cơ quan chịu trách nhiệm chính, và các bộ phận này cần có sự phối hợp nhịp nhàng.

Vậy theo ông đâu là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng “mắc kẹt” này của cộng đồng DN?

Việc vực dậy cộng đồng DN lúc này cần phụ thuộc vào một loạt các giải pháp căn cứ vào các tồn tại, các vướng mắc của chính các doanh nghiệp. Hiện các DN nói chung đặc biệt là DN nhỏ và vừa hiện nay đang bị co sản xuất rất nhanh, thậm chí đang bị phá sản, nợ xấu tăng lên. Điều này có ba nguyên nhân:

Một là, tình trạng tiêu thụ sản phẩm của DN không được thông suốt, vì sức mua bị giảm sút, chi phí tăng lên, thị trường co lại kể cả ở trong nước và thế giới. Điều này làm cho khả năng bán hàng của các doanh nghiệp khi sản xuất ra bị chậm lại, ứ lại. Hơn thế nữa, quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý xuất nhập khẩu của mình không được chặt chẽ để hàng lậu tuôn vào, để hàng không bị đánh thuế, hàng không bị yếu tố cạnh tranh xâm nhập vào rất lớn, làm cho khả năng tiêu thụ lại càng khó khăn. Đây là những nguyên nhân làm cho hàng hóa bị ứ đọng lại, hàng ứ đọng lại thì doanh nghiệp không bán được, không bán được thì doanh nghiệp không trả nợ để vay tiếp, không có tiền để nộp thuế, không có tiền để trả lương công nhân, không có tiền để tiếp tục tái sản xuất thì sản xuất ứ lại ngay. Không có tiền như vậy, nợ thuế, nợ tín dụng chuyển sang nợ xấu thì ngân hàng lại càng không cho vay vì vi phạm tiêu chuẩn, tiêu chí cho vay không an toàn, khó khăn ở vòng sau lại càng tiếp tục.

Hai là, vấn đề nợ xấu, vì hệ lụy của việc không bán được hàng, quản lý yếu kém và cho vay không được kiểm soát chặt chẽ. Cùng một số ngành trong tình trạng đóng băng như bất động sản, chứng khoán và hàng tiêu dùng. Khi mình vay dễ dãi như thế dễ dẫn tới việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả dẫn đến nợ xấu. Khối nợ này làm khả năng tiếp cận vốn tiếp của DN không được, làm giảm lợi nhuận, giảm công nhân. Về phía ngân hàng khi nợ xấu tăng lên thì không dám cho vay ra nữa, vì lẽ nếu nợ xấu càng tăng thì độ an toàn càng giảm. Nếu cho vay ra thì tạo nên nợ xấu tiếp, đồng nghĩa với việc chuyển lợi nhuận cao xuống lợi nhuận thấp, hoặc từ chỗ có lợi nhuận sang lỗ và có khả năng đe dọa an ninh của hệ thống ngân hàng, của từng ngân hàng một, thanh khoản sẽ mất ngay. Nợ xấu làm cho cả ngân hàng và doanh nghiệp lún vào tình trạng bất động, vốn không vay được, sản xuất không được, ngân hàng không cho vay ra được, doanh nghiệp cần vốn nhưng không vay được vì càng vay càng lỗ.

Ba là, trong nợ xấu ấy, tồn kho ấy có vấn đề rất lớn là bất động sản. Tỷ lệ dư nợ cho vay bất động sản so với tổng dư nợ chiếm gần 30%. Tỷ lệ nợ xấu trong tổng số nợ xấu chiếm gần 70%. Nguồn vốn, nợ xấu nằm đọng vào bất động sản. Trong khi thị trường bất động sản đóng băng, không tiêu thụ được, ngân hàng cho vay không lấy lại được, doanh nghiệp bỏ vốn ra không quay vòng được. Ngoài ra là vấn đề thủ tục, cũng bó buộc doanh nghiệp ngay cả đến ngân hàng muốn cho vay nhưng sợ vi phạm các tiêu chuẩn nên cũng đành bó tay.

Theo ông, việc ra đời Quỹ bảo lãnh tín dụng có là một cứu cánh cho DN vào lúc này?

Thực tế, Quỹ bảo lãnh tín dụng ra đời trước khi có hiện tượng này ồ ạt xảy ra tức là trước khi có tồn kho. Một số tỉnh cũng đã làm, nhưng vì nguồn vốn ít quá, khả năng đáp ứng không được. Do đó sau một thời gian hoạt động cầm chừng cứ teo dần. Do đó, ý nghĩa tác dụng của việc bảo lãnh không có. Trước thực tiễn đó, Chính phủ đã có chỉ đạo cơ cấu lại, và giao cho Ngân hàng Phát triển, và ngân hàng này đã tạo ra được một số quy trình, quy chế riêng. Việc bảo lãnh tín dụng trong thời gian này đã tạo được mấy nghìn tỷ và một số doanh nghiệp cũng được bảo lãnh. Tuy nhiên, việc bảo lãnh này cũng có một số điều khoản không được chặt chẽ khiến nhiều ngân hàng thương mại họ không chấp nhận hoặc khi bảo lãnh rồi họ vẫn phải kiểm tra, xác minh lại. Do đó, đến thời điểm hiện tại, chủ chương trên chưa phải là không tốt, nhưng còn nhiều vấn đề còn phải được tổng kết, tạo điều kiện để phát huy hơn nữa. Cụ thể như việc phải chịu 2 lần phí vừa của ngân hàng phát triển, ngân hàng thương mại khiến hoạt động còn nhiều điểm hạn chế.

Tiếp cận được nguồn vốn vay hiện đang là một trong những yếu tố “cốt tử” của doanh nghiệp, vậy theo ông đâu là các giải pháp để cải thiện tình trạng trên?

Theo tôi để giải quyết vấn đề trên chúng ta cần phải có những giải phải đồng bộ và căn cơ. Cụ thể, đó là tất cả những thủ tục, những tiêu chí được bảo lãnh cần phải được làm rõ. Tiếp theo, khi đã bảo lãnh rồi thì sự phân công giữa ngân hàng phát triển và ngân hàng thương mại nên được quy định như thế nào để thuận lợi không phải bảo lãnh nhiều lần. Do vậy, cần phải có sự bàn bạc giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại và cần phải có sự phân phối chi phí, quy định trách nhiệm như thế nào đó cho hợp lý.

Chúng ta cũng cần thống nhất rằng, trong bối cảnh kinh tế ảm đạm như hiện nay việc tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn vay là một lối thoát tất yếu cho DN. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có chiến lược nâng tầm cho cả DN lần hệ thống ngân hàng. Doanh nghiệp đưa hồ sơ vào để bảo lãnh chứ không phải trả nợ cho những làm ăn thua lỗ của mình. Còn khi ngân hàng phát triển đã bảo lãnh vào rồi thì phải chịu trách nhiệm để đưa sang ngân hàng thương mại thì cứ thế cho vay. Do đó, đòi hỏi cả ba bên phải có sự đồng bộ, phối hợp để nâng tầm tạo nên dòng chảy, tạo nên khả năng thực thi kinh doanh sản xuất, thực thi bảo lãnh và thực thi cho vay./.