17:10:59 | 29/1/2013
Làm thế nào thu hút nguồn vốn FDI và phân bổ vốn ODA cho hiệu quả, tạo sự tin tưởng nơi các nhà đầu tư nước ngoài, là những vấn đề mà phóng viên Tạp chí Vietnam Busniess Forum đặt ra trong cuộc trao đổi với ông Hoàng Viết Khang, Vụ trưởng Vụ Kinh tế đối ngoại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Anh Phương thực hiện.
Năm 2012 đã ghi nhận sự đóng góp lớn của dòng vốn FDI và ODA trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bước sang năm 2013 cả hai dòng vốn này vẫn được xem là đòn bẩy giữ nhịp cho nền kinh tế phát triển bền vững, ông Hoàng Viết Khang cho biết.
Ông đánh giá thế nào về sự thu hút nguồn vốn ODA, FDI trong thời gian qua?
Có thể nói Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn tái cơ cấu mạnh mẽ nền kinh tế vì vậy vấn đề huy động nguồn vốn trong nước và quốc tế là tối cần thiết. Việc phân bổ và sử dụng đồng vốn đó ra sao cho hiệu quả để đáp lại sự tin tưởng của các nhà đầu tư càng được đặt lên hàng đầu.
Năm 2012, tình hình kinh tế trong nước và thế giới có nhiều biến động, do đó cũng đã có những tác động không nhỏ đến cả hai dòng vốn này. Cụ thể, có nhiều nhà đầu tư tiếp tục cam kết sẽ tăng nguồn vốn viện trợ cho Việt Nam, song cũng có những nhà tài trợ đã điều chỉnh giảm các khoản viện trợ cho Việt Nam. Bên cạnh đó, cộng với việc Việt Nam đã được xếp vào nước có mức thu nhập trung bình thì nguy cơ bị cắt giảm một số khoản viện trợ bao gồm ODA và các nguồn vốn vay ưu đãi khác. Ngoài ra, theo mốc thời gian thì đến năm 2015, hầu hết các khoản viện trợ đều bị cắt giảm theo lộ trình cũng là một sự cảnh báo cho Việt Nam. Do đó ngay từ thời điểm này, Việt Nam cần tối ưu hóa các khoản viện trợ để thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ trước khi thời điểm này tới gần.
Về nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi khác của các nhà tài trợ trong cả giai đoạn 2011-2015 được dự kiến, vốn cam kết khoảng 32-34 tỷ USD, vốn giải ngân khoảng 14-16 tỷ USD (tương đương khoảng 6% tổng đầu tư xã hội), trong đó khoảng 50% vốn giải ngân từ các chương trình và dự án đã ký trong giai đoạn 2006-2010 chuyển sang. Như vậy, bình quân hàng năm trong thời kỳ 2011-2015, vốn ODA và các nguồn vốn vay ưu đãi khác giải ngân sẽ đạt khoảng 2,8-3,2 tỷ USD. Việc thực hiện cam kết và giải ngân nguồn vốn nêu trên có ý nghĩa quan trọng để hỗ trợ thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội 2011-2015.
Riêng về dòng vốn FDI, mức thu hút được đánh giá là kém hấp dẫn hơn so với năm 2011. Cụ thể, trong năm 2012, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam chỉ bằng 77,6% của năm 2011, đạt 12,72 tỉ USD, trong đó vốn đăng ký mới gần 7,8 tỉ USD với 1.097 dự án và vốn tăng thêm hơn 4,9 tỉ USD với 406 dự án. Từ con số này cũng cho thấy, Việt Nam chỉ đạt khoảng 80% mục tiêu đề ra từ đầu năm là thu hút khoảng 15 – 17 tỉ USD vốn FDI. Trong đó dẫn đầu vẫn là vốn FDI từ các nhà đầu tư Nhật Bản chiếm 40,3% tổng vốn FDI; Singapore chiếm 12,3% và Hàn Quốc với 9,1%. Riêng trong năm 2012 cũng ghi nhận sự bứt phá mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến chế tạo khi ngành này hút tới 70% lượng vốn FDI rót vào Việt Nam đạt gần 8,2 tỉ USD.
Theo ông, Việt Nam cần những biện pháp khắt khe nào hơn nữa để thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ngoại?
Thực tế, để đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 -2015, nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 75 - 80% và nguồn vốn nước ngoài chiếm khoảng 20 - 25%. Đó thực sự là một nguồn tài chính rất lớn đòi hỏi Việt Nam cần có các biện pháp và đề ra các kế hoạch sử dụng chi tiết, đầy đủ. Muốn làm được điều này, ngay từ lúc này Chính phủ cùng các bộ ngành liên quan cần hoàn thiện hơn nữa khung thể chế pháp lý đảm bảo tính nhất quán trong các chính sách cũng như hệ thống luật pháp. Ngoài ra việc sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vốn vay ưu đãi khác cũng cần tính đến hiệu quả kinh tế và tỷ lệ an toàn nợ công. Mặt khác Chính phủ cũng cần tính đến khả năng mở rộng phạm vi tiếp cận nguồn lực tài chính này. Không chỉ cho các doanh nghiệp, tập đoàn, cơ quan nhà nước mà ngay đến đối tượng các doanh nghiệp tư nhân cũng được tham gia trong các dự án ODA, được sử dụng đồng vốn nếu có đề án chiến lược phát triển kinh tế đầu tư phù hợp và khả thi. Ngoài ra, cũng cần nâng cao sự giám sát việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn và trách nhiệm giải trình của cơ quan chức năng. Phân chia vai trò rõ ràng hơn giữa các nhà tài trợ để tối ưu hóa các khoản tài trợ.
Riêng về dòng vốn FDI, do có nhiều yếu tố tác động của quốc tế nên cũng cần phân cấp, chia loại các dự án FDI có chọn lọc, định hướng vào những lĩnh vực công nghệ cao có tính cạnh tranh, ít hao tốn tài nguyên, thân thiện với môi trường... Hạn chế thu hút vốn vào các lĩnh vực phi sản xuất làm gia tăng nhập siêu, sử dụng không hiệu quả tài nguyên, đất đai, điện... và gây ô nhiễm môi trường, như một số dự án sản xuất sắt thép vật liệu xây dựng. Một vấn đề nổi cộm khác của dòng vốn này là mức độ chênh lệch giữa vốn thực hiện và vốn giải ngân cũng cần tính toán sát sao. Sao cho tỉ lệ này ở mức cân bằng, tiệm cận nhau. Tránh xảy ra tình trạng đầu kỳ nguồn vốn đăng ký rất cao nhưng cuối kỳ vốn thực tế thực hiện lại quá thấp dẫn đến tình trạng vốn đăng ký đầu kỳ là “vốn ảo” gây lãng phí nguồn lực quốc gia. Bên cạnh đó, muốn vốn FDI đổ vào Việt Nam nhiều hơn thì các bộ ngành liên quan cũng cần tính đến các giải pháp đồng bộ như: luật pháp và chính sách; quy hoạch; cải thiện cơ sở hạ tầng; nguồn nhân lực; giải phóng mặt bằng; phân cấp và xúc tiến đầu tư... Tuyệt đối tránh tình trạng nhiều dự án đã được phê duyệt nhưng trong quá trình triển khai do vướng mắc trong huy động vốn, giải ngân vốn, cơ sở hạ tầng phải dừng thậm chí nhà đầu tư rút vốn, dừng dự án gây thiệt hại không đáng có.
Theo ông, ngoài những nhóm ngành có mức thu hút nguồn vốn cao trong thời gian trước, năm 2013 các lĩnh vực nào sẽ thu hút vốn hiệu quả?
Hiện tại, Việt Nam được cộng đồng quốc tế xếp vào nước bước đầu tham gia vào thể chế nền kinh tế thị trường, do đó ngoài việc ưu tiên đầu tư nguồn vốn trong nước và nước ngoài vào phát triển các ngành kinh tế “nóng” như công nghiệp chế tạo, điện thoại, linh kiện điện tử thì các ngành kinh kế cơ bản, xương sống như các sân bay quốc tế, cảng nước sâu, đường cao tốc, hệ thống nguồn điện, lưới điện quốc gia cần được ưu tiên cao nhất trong sử dụng các dòng vốn ODA và vốn vay ưu đãi khác.
Xin cảm ơn ông!