Chậm lên sàn do khó CPH những tập đoàn lớn

16:38:52 | 12/5/2010

Theo thống kê, cho tới thời điểm hiện tại, tổng số doanh nghiệp niêm yết tại 2 sàn là 519 doanh nghiệp (DN) , trong đó, sàn Hose là 229 DN, sàn HNX là 290 DN (chưa tính sàn Upcom).

Số lượng như vậy không phải là nhỏ so với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng hàng hoá trên thị trường chưa cao, thiếu vắng nhiều mặt hàng trong những lĩnh vực quan trọng.

Khó CPH các tập đoàn lớn

Thực tế hiện nay cho thấy, cũng có khá nhiều thương hiệu doanh nghiệp nổi tiếng tham gia niêm yết trên 2 sàn, những thương hiệu này đến từ khu vực DNNN được cổ phần hóa và từ khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

Tuy nhiên, theo nhận xét, TTCK Việt Nam vẫn còn sự thiếu vắng đại diện của 1 số ngành và lĩnh vực quan trọng như viễn thông, khai thác khoáng sản, dầu khí… Đối với ngành viễn thông, hiện nay chưa có đại diện những doanh nghiệp lớn tham gia. Sự chậm trễ trong việc cổ phần hóa những doanh nghiệp lớn như Mobifone, Vinafone… có thể sẽ không gây sự chú ý cho giới đầu tư khi các doanh nghiệp này lên sàn vì sẽ không còn sức hấp dẫn. Điều này được lý giải là có thể trong mấy năm tới khi thị trường cung cấp dịch vụ viễn thông đã gần tới điểm bão hòa, tốc độ tăng trưởng của ngành chậm cộng thêm vốn điều lệ lớn khi thực hiện cổ phần hóa.

Đối với ngành khai thác khoáng sản, hiện vẫn đang trông chờ vào việc cổ phần hóa Tập đoàn than, khoáng sản VN- TKV. Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, việc cổ phần hóa cả Tập đoàn không thể diễn ra nhanh với tốc độ đổi mới doanh nghiệp như hiện nay. Việc CPH cả 1 Tập đoàn lớn với rất nhiều đơn vị thành viên không thể kỳ vọng sự thay đổi nhanh về tốc độ quản trị doanh nghiệp, cho nên trong tương lai trung hạn, TTCK khó có thể mong đợi TKV sẽ đóng vai trò là 1 doanh nghiệp niêm yết nòng cốt.

Đối với ngành xăng - dầu, việc cổ phần hóa Tập đoàn dầu khí quốc gia VN - PVN, TCT xăng dầu và niêm yết các đơn vị này trên sàn cũng tương tự như TKV.

Theo nhận xét của Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính - VAFI, việc cổ phần hóa các tập đoàn kinh tế nhà nước là việc cần phải làm để cho các tập đoàn kinh tế hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần phải xác định 1 mức giá hợp lý ( không như các doanh nghiệp đơn lẻ có thương hiệu ) để tiến trình cổ phần hóa các tập đoàn được thành công.

Có còn DN tiềm năng?

Đối với khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, những doanh nghiệp FDI lớn trực thuộc các tập đoàn đa quốc gia thuờng ít tham gia cổ phần hóa và niêm yết tại thị trường bản địa, nhất là những thị trường còn kém phát triển như Việt Nam – Đó là 1 thông lệ.

Thực tế cho thấy, những doanh nghiệp FDI được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở góp vốn của các thể nhân hay các doanh nghiệp nhỏ của nước ngoài thì thường không phải là những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả như doanh nghiệp trong nước. Ngoài ra, có 1 số doanh nghiệp FDI hoạt động hiệu quả, nhưng họ lựa chọn niêm yết tại nước của họ vì thuận lợi hơn trong việc huy động vốn.

Đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa mà chưa niêm yết, hiện không còn nhiều những doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả, có tốc độ tăng trưởng nhanh qua các năm. Đó là chưa kể đa phần doanh nghiệp trong khu vực này chưa thiết tha niêm yết, trình độ quản trị doanh nghiệp của khối này thường là kém hơn so với những doanh nghiệp đã niêm yết.

Cần hàng có chất lượng

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, TTCKVN vẫn cần thêm hàng hóa, nhưng không phải theo số lượng mà cần thêm hàng có chất lượng cao. Vì vậy, Việt

Nam cần nâng cao chất lượng hàng hóa đang niêm yết bằng nhiều giải pháp. Trong đó, cần nâng cao tiêu chuẩn niêm yết tại sàn Hose, sàn HNX, như vậy sẽ có 1 bộ phận doanh nghiệp niêm yết từ sàn Hose không đủ tiêu chuẩn phải chuyển sang sàn HNX, 1 bộ phận doanh nghiệp đang niêm yết tại sàn HNX chuyển sang sàn Upcom.

Ngoài ra, theo VAFI, Việtn Nam cần đẩy nhanh việc bán bớt cổ phần nhà nước tại nhiều doanh nghiệp niêm yết bằng nhiều hình thức như: bán dần theo lộ trình, bán toàn bộ cho nhà đầu tư chiến lược hoặc thực hiện phương án hợp nhất sát nhập với những doanh nghiệp mạnh…

Trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, nhà nước cần có chính sách không cho phép thành lập các doanh nghiệp mới, đồng thời nâng tiêu chuẩn vốn điều lệ tại các tổ chức tài chính trên để giảm đáng kể số tổ chức tài chính, tập trung nguồn lực, giảm thiểu tình trạng cạnh tranh gay gắt và không lành mạnh… Đề án tăng dần vốn điều lệ (vốn pháp định) tại các Ngân hàng thương mại của Ngân hàng nhà nước đang đi đúng hướng và rất phù hợp với thông lệ thế giới.

VAFI cho rằng, việc nâng cao chất lượng hàng hóa niêm yết bằng nhiều giải pháp nhằm tạo sự hấp dẫn cho TTCK, giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư cá nhân, đồng thời tạo nhiều điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả dễ dàng thu hút vốn – Đây có lẽ là 1 chiến lược mới mà UBCKNN và các cơ quan hữu quan cần đúc kết để Hoạch định các chính sách phát triển thị trường trong giai đoạn 2010 – 2020.

Quỳnh Chi