10:21:06 | 18/3/2013
Cuộc suy thoái toàn cầu vẫn đang tiếp tục ảnh hưởng trực tiếp đến ngành sản xuất và kinh doanh thép. Bên cạnh lượng tồn kho lớn do nhu cầu thị trường giảm sút nghiêm trọng thì bản thân các doanh nghiệp ngành thép Việt Nam vẫn chưa đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài do quy mô sản xuất nhỏ, trình độ công nghệ ở mức trung bình và nhất là chi phí vốn vay trong vài năm gần đây thường cao hơn nhiều so với các nước xuất khẩu phôi thép và thép thành phẩm vào Việt Nam. Nếu tình hình này không được cải thiện, nguy cơ ngành thép Việt Nam phải đóng cửa đang hiển hiện trước mắt.
Phá vỡ quy hoạch
Theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) – ông Nguyễn Tiến Nghi, năm 2007, chỉ một năm sau khi Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam giao đoạn 2007- 2015”, VSA đã có hàng loạt công văn gửi Chính phủ, Bộ Công Thương nêu ra tình trạng đầu tư tràn lan, chạy theo “phong trào” ở các địa phương. Vì nôn nóng thu hút đầutư, thay vì xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương, nhà đầu tư cùng địa phương chia đôi dự án để dễ dàng được đầu tư. Chính điều này khiến cho “cơn sốt” sản xuất thép xây dựng bùng lên ở nhiều địa phương, đẩy ngành thép lâm vào cảnh bĩ cực như hiện nay.

Trên cả nước, hiện có khoảng 400 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thép, trong đó có khoảng 120 doanh nghiệp chuyên sản xuất thép xây dựng nhưng có tới gần 100 doanh nghiệp sản xuất không nằm trong diện quy hoạch, điều này khiến cho thị trường thép luôn trong tình trạng cung vượt quá cầu. Tại nhiều địa phương, vẫn tồn tại nhiều bất cập trong việc cấp phép khiến cho việc quản lý rất khó khăn như phát triển không theo quy hoạch Thủ tướng đã duyệt; điều kiện thu thập thông tin hạn chế khiến cho việc lựa chọn đối tác không phù hợp; không tính toán đầy đủ các giải pháp bảo về môi trường và không có kiến thức về công nghệ. Điều này đã làm mất cân đối theo quy hoạch như: cân đối năng lượng, môi trường, vận tải…- ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam nhận định.
Sức cạnh tranh kém
Ngành thép hiện nay phát triển không đồng đều khiến cho những bất cập của ngành thép ngày một rõ nét hơn. Trong khi thép cán xây dựng, thép cuộn cán nguội đang có công suất và sản lượng cao hơn nhiều so với nhu cầu thì thép cán nóng, thép chế tạo, các loại thép không gỉ thì chưa có cơ sở nào sản xuất và vẫn phải nhập khẩu.
Bên cạnh đấy, đa số các doanh nghiệp đều hoạt động dựa trên công nghệ lạc hậu do các nước phát triển thải loại và doanh nghiệp Việt về dẫn đến tình trạng tốn kém, lãng phí trong hoạt động sản xuất, đồng thời các sản phẩm sản xuất ra không đạt chất lượng như mong muốn, khả năng cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của nước ngoài cũng hạ thấp.
Giải thích điều này, ông Nghi cho biết: do được phân cấp, địa phương nào cũng nôn nóng thu hút đầu tư, không lường hết khó khăn và dễ dàng chấp nhận các dự án dẫn đến phá vỡ cân đối về số lượng và chủng loại sản phẩm thép. Không chỉ vậy, các địa phương còn không chọn lọc kỹ đối tác về tiềm lực tài chính, về công nghệ nên khi có những biến động kinh tế thì đối tác thường kéo dài tiến độ, thậm chí là dừng việc thực hiện dự án. Đã có một số dự án phải thu hồi giấy phép vì đối tác không có khả năng thực hiện, một số dự án thực hiện được thì sử dụng công nghệ lạc hậu, biến Việt Nam thành nơi tập kết của những nhà máy sản xuất tiêu tốn năng lượng và gây ô nhiễm nặng, vốn đang bị nhiều quốc gia khác tìm cách loại bỏ.
Tỷ lệ nợ lớn
Khó khăn về đầu ra đang trở thành thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp sản xuất thép. Trong khi nguồn vốn chủ sở hữu thấp, hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn vay ngân hàng. Việc không giải quyết được đầu ra của sản phẩm sẽ làm tăng nguy cơ phá sản đối với doanh nghiệp như Công ty cổ phần thép Vạn Lợi, do bế tắc đầu ra nhà mày đã ngừng hoạt động hơn một năm nay với hai nhà máy luyện thép và một nhà máy sản xuất phôi, trong khi số nợ với ngân hàng hiện đang trên 1.000 tỉ đồng. Thậm chí nhiều dự án tại Nghệ An dù chưa đi vào sản xuất nhưng cũng đã tạm dừng vô thời hạn. Tất cả các trường hợp trên, nếu tuyên bố phá sản thì bản thân ngân hàng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi nguồn vốn cho vay không thể thu hồi lại được.
Một doanh nghiệp sản xuất thép có tiếng lâu nay như nhà máy sản xuất phôi thép Đình Vũ cũng đã chịu lỗ liên tục trong nhiều năm liền. Sức chịu đựng có hạn, doanh nghiệp này đã chuyển nhượng 70% cổ phần của mình cho Công ty CP thép Việt- Úc. Hiện nhà mày thép Đình Vũ cũng chỉ hoạt động cầm chừng và gia công cho thép Việt- Úc. Bên cạnh đấy, hàng loạt doanh nghiệp cũng đã phải đóng cửa hoặc chuyển đổi cơ cấu kinh doanh như nhà máy thép Cửu Long Vinashin, Công ty CP thép Sông Hồng,….
Công ty CP gang thép Thái Nguyên cũng đang nợ ngân hàng hơn 6.000 tỉ đồng, nguồn vay này vẫn chưa dừng lại khi công ty đang có kế hoạch đầu tư mở rộng dự án gang thép Thái Nguyên giai đoạn 2. Trong khi đầu ra sản phẩm còn yếu, số lượng tồn kho lớn thì tình trạng làm ăn thua lỗ của các doanh nghiệp nghành thép nói riêng sẽ còn tiếp tục kéo dài, đó là chưa kể đến nguồn vốn để trả vốn vay theo kỳ hạn.
Nếu không có một kế hoạch phát triển mang tính vĩ mô với sự tham gia của Chính phủ, các bộ, hiệp hội thép và các doanh nghiệp liên quan thì khả năng “chìm” trong thua lỗ của ngành sản xuất thép trong nước là khó tránh khỏi, đấy sẽ là cơ sở cho sự đi xuống thậm chí biến mất của ngành thép.
Lương Tuấn