Khẳng định lòng tin của giới đầu tư FDI vào Việt Nam

11:16:14 | 14/5/2010

Mới đây, HSBC công bố Bảng xếp hạng Chỉ số Lòng tin kinh doanh (Trade Confidence Index) – TCI), Việt Nam đứng thứ 3/17 Quốc gia và vùng lãnh thổ được giới doanh nhân nước ngoài tin tưởng đầu tư, kinh doanh.

Có lẽ 71% doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam đã rất tự tin vào tốc độ tăng trưởng GDP và 23% tin rằng mức tăng trưởng sẽ không đổi trong khi chỉ 6% nghĩ rằng mức tăng trưởng sẽ chậm lại trong 6 tháng tới. Vì vậy, các DN nước ngoài tăng niềm tin kinh doanh và đầu tư vào Việt Nam là hoàn toàn có cơ sở.

DN Việt lạc quan

Thực tế, theo kết quả khảo sát về mức độ tin tưởng của các DN nhỏ và vừa Việt Nam của HSBC, mức độ lạc quan của các DN nhỏ và vừa Việt Nam tăng 10 điểm trong Quý 4/2009, đạt mức cao nhất kể từ khi bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng tài chính toàn cầu vào quý 4/2008. Trong cuộc khảo sát lần thứ 5 được tiến hành vào tháng 10 và 11/2009, được công bố mới đây thông qua ý kiến của 6000 DN nhỏ và vừa tại 20 thị trường Châu Á, Trung Đông, Châu Âu, Bắc Mỹ và Mỹ La tinh. Kết quả cho thấy, Việt Nam đứng đầu bảng khảo sát với chỉ số tin tưởng 160 điểm (theo thang điểm từ 0-200), lạc quan cao nhất trong khu vực châu Á. Tiếp tới là Ấn Độ 132 điểm, Trung Quốc 124 điểm và Singapore là 117 điểm. Các nhà đầu tư cũng rất tin tưởng mở rộng đầu tư kinh doanh và có tới 66% DN đang lên kế hoạch tăng đầu tư vào các hoạt động kinh doanh; 32% sẽ duy trì ở mức cũ và chỉ có 1% có kế hoạch cắt giảm đầu tư. Việc này đồng nghĩa với tăng sử dụng nhân lực và có tới 54% DN nhỏ và vừa sẽ tuyển dụng lại, 30% sẽ tăng nhân lực lến đến 20%; 44% DN duy trì nhân sự như cũ và chỉ có 1% cắt giảm nhân sự (Tính đến Quý 2/2009 là 3%).

Có tới 71% DN nhỏ và vừa Việt Nam tin tưởng vào triển vọng phát triển kinh tế, tự tin vào sự tăng trưởng cao của GDP. Trong khi đó, tại Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ là 41%. Tại Pháp, chỉ có 11% DN nhỏ và vừa kỳ vọng vào tốc độ tăng trưởng cao hơn của GDP. Khi DN Việt Nam đã tự tin, lạc quan với chính bản thân mình và sự tăng trưởng chung của nền kinh tế thì không có lý gì các DN nước ngoài lại không đặt lòng tin đầu tư vào quốc gia nổi tiếng với sự bình ổn chính trị và tốc độ tăng trưởng nhanh này.

Lòng tin được củng cố

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có nền chính trị ổn định nhất trên thế giới và đang ngày càng hoàn thiện cơ sở pháp lý. Biết được điểm yếu của mình là kém về cơ sở hạ tầng, vì thế trong 10 năm trở lại đây, với chính sách vĩ mô toàn diện, Việt Nam đã tích cực đầu tư đồng bộ xây dựng, nâng cấp hệ thông cơ sở hạ tầng, giao thông trên toàn quốc gia. Hơn nữa, với vai trò là chủ tịch Asean, Việt Nam đang ngày càng nâng cao vị thế chính trị, kinh tế của mình trên trường quốc tế. Với chính sách kinh tế mở, các doanh nghiệp nước ngoài đã đánh giá rất cao môi trường đầu tư Việt Nam và đã đưa ra nhiều dự báo kinh tế tăng trưởng khả quan. Đó là một trong những cơ sở tăng lòng tin kinh doanh của nhà đầu tư nước ngoài với Việt Nam.

Theo chuyên gia nghiên cứu kinh tế về các nước Đông Nam Á người Pháp – Jean Raphael Chaponniere, mặc dù chịu tác động của khủng hoảng kinh tế, Việt Nam vẫn rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài với lợi thế của nền kinh tế như: mức độ tiêu dùng của các hộ gia đình tăng cao, dân số trẻ…

Cũng dựa trên kết quả điều tra của công ty tham vấn kinh doanh quốc tế A.T. Kearney chỉ số Lòng tin kinh doanh của giới đầu tư nước ngoài (FDI Confidence Index) năm 2010, Việt Nam đứng đầu danh sách các nước Đông Nam Á, tiếp tới là Indonesia, Malaysia và Singapore và Việt Nam đứng thứ 12/80 quốc gia được giới đầu tư quốc tế tin tưởng nhất.

Forum:

ÔNG SHINYA ABE, Tổng giám đốc Panasonic Việt Nam

Năm 2010, kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng cao hơn so với năm 2009. Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Việt Nam, mục tiêu của chúng tôi là mở rộng sản xuất và tăng doanh số bán hàng. Tôi cũng đồng tình với dự báo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) về nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam sẽ đạt khoảng 25 tỷ USD trong năm 2010. Tuy nhiên, tỷ lệ giải ngân nguồn vốn này sẽ còn phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực đẩy mạnh cải cách hành chính và hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam.

ÔNG SACHIO KAGEYAMA, Tổng giám đốc Canon Việt Nam

Năm 2010, cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam sẽ có những biến chuyển tốt. Để có thể thu hút nhiều hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất, Việt Nam cần cải thiện môi trường đầu tư, tập trung vào các điểm như: cải thiện cơ sở hạ tầng (nâng cấp hệ thống cung cấp điện ổn định, phát triển hệ thống cảng biển, đường bộ, sân bay); phát triển công nghiệp phụ trợ bằng cách hỗ trợ tài chính và xây dựng hệ thống giáo dục - đào tạo trong đó ưu tiên phát triển kỹ năng, kiến thức về công nghiệp phụ trợ.

Nếu có lộ trình, cũng như thực hiện tốt các chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp phụ trợ, Việt Nam không những có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài, mà còn tạo được một nền công nghiệp phát triển bền vững, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vào năm 2020.

ÔNG KHALID MUHMOOD, Chủ tịch Tổ Chức Giáo dục và Đào tạo Apollo Việt Nam

Tôi cho rằng, đầu tư của khu vực tư nhân, kể cả trong nước và nước ngoài, rất cần cho việc phát triển lĩnh vực giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Để thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực giáo dục, cần có sự cân bằng giữa số lượng và chất lượng. Một điều cần khẳng định rằng, cơ hội đầu tư vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở Việt Nam là rất lớn. Rất nhiều quỹ đầu tư đang ưu tiên đầu tư vào lĩnh vực giáo dục - đào tạo, tuy nhiên họ chưa đánh giá hết những thách thức để vận hành một cơ sở giáo dục - đào tạo tại Việt Nam.

Trọng tâm hoạt động của Apollo là hướng tới nỗ lực cải thiện chất lượng hệ thống giáo dục của Việt Nam. Để cải thiện tốt chất lượng hệ thống giáo dục, phải cải thiện được chất lượng đội ngũ giáo viên và hướng nghiệp nghề giáo trở thành một lựa chọn nghề hấp dẫn cho các lớp trẻ. Với nguồn lực còn hạn chế như hiện nay, để thực hiện được điều này là không dễ dàng.

Ông INDRONIL SENGUPTA, Giám đốc các dự án tại khu vực Đông Nam Á của Tata Steel

Việt Nam là một địa điểm đầu tư chiến lược của Tata Steel. Dự án của chúng tôi tại Việt Nam (Nhà máy Liên hợp thép tại Khu kinh tế Vũng Áng với tổng vốn đầu tư ước tính 5 tỷ USD), triển khai chậm hơn so với kế hoạch là do vướng vấn đề giao đất. Tuy nhiên, tiến độ chậm không phải là một vấn đề ngoại lệ đối với các đại dự án.

Với những dự án như vậy, chúng tôi phải có những bước chuẩn bị rất kỹ để làm sao dự án có thể hoạt động bền vững trong vòng ít nhất 50 năm. Chúng tôi đánh giá cao những nỗ lực và chính sách của Chính phủ Việt Nam trong việc điều hành kinh tế vĩ mô để giảm thiểu những tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

Không như các quốc gia khác ở khu vực châu Á, Việt Nam đã đứng vững trong cuộc khủng hoảng được coi là tồi tệ nhất lịch sử. Chính phủ Việt Nam nên tiếp tục hành động mạnh mẽ để tăng cường nền tảng phát triển tinh tế. Việt Nam cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để khuyến khích phát triển ngành công nghiệp chế tạo, với sự đóng góp của cả nguồn vốn trong nước và nước ngoài. Điều này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và như vậy sẽ giảm bớt thâm hụt thương mại. Ngoài ra, Việt Nam cần mở rộng thị trường xuất khẩu ra các khu vực trên toàn cầu, thay vì chỉ tập trung vào các khu vực ở phía Tây.

Ông ASHOK SUD, Tổng giám đốc Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam

Có ba điểm sáng trong bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2009. Thứ nhất, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm nổi bật khả năng phục hồi, cũng như cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh khác. Điều này chứng minh rằng, tạo ra giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu là vô cùng cần thiết.

Thứ hai, tính năng động và linh hoạt của Chính phủ Việt Nam thông qua việc ban hành gói kích cầu tài chính, các chính sách tiền tệ và tỷ giá linh hoạt đã góp phần giảm thiểu những tác động của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đối với Việt Nam. Thứ ba, sự tăng trưởng mạnh về quy mô của thị trường trong nước góp phần đáng kể trong kết quả tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam năm 2009.

Một vài chính sách của Chính phủ Việt Nam có thể tạo nên những ảnh hưởng ngắn hạn, tuy nhiên những chính sách đó đã đem lại kết quả rất tích cực là Việt Nam nằm trong số 4 quốc gia châu Á đạt mức tăng trưởng dương trong năm 2009.

Nền kinh tế toàn cầu năm 2010 tiếp tục là một thách thức lớn cho chính phủ các quốc gia, các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng các doanh nghiệp. Dự báo, tăng trướng của khu vực Châu Á năm 2010 sẽ đạt khoảng 7% (so với 4,5% trong năm 2009). Trong bối cảnh này, lạm phát không phải là vấn đề lớn đối với các nước ở phía Tây, nhưng ở các nền kinh tế đang nổi như Việt Nam, khi nhu cầu trong nước tăng mạnh và giá các mặt hàng cũng tăng, thì ngân hàng Trung ương cần phải tiếp tục thắt chặt kiểm soát lạm phát.

Ông CHEONG HO KUAN, Tống giám đốc Gamuda Lang Vietnam

Việt Nam là một điểm đầu tư quan trọng đối với các nhà đầu tư Malaysia và chúng tôi nhận định rằng, Việt Nam đã nỗ lực rất lớn trong quá trình cải cách và mở cửa nền kinh tế với toàn cầu. Năm 2010 sẽ dấu mốc quan trong đối với Gamuda, bởi Dự án Công viên Yên Sở của chúng tôi với vốn đầu tư ước tính 2 tỷ USD sẽ hoàn thành đúng vào thời điểm kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Mặc dù gặp khó khăn trong quá trình giải tỏa và đền bù, nhưng với sự hỗ trợ của chính quyền Hà Nội, dự án đang được triển khai rất tích cực. Bên cạnh nhà máy xử lý nước thải và khu vực công viên cây xanh trong Công viên Yên Sở, trong khuôn khổ Dự án, chúng tôi cũng xây dựng một khu đô thị hiện đại, góp phần nâng cao điều kiện sống của người dân ở khu vực phía Nam Hà Nội. Trong năm 2010, ngoài Dự án Công viên Yên Sở, Gamuda đang nghiên cứu cơ hội đầu tư các dự án trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và bất động sản khác tại Việt Nam.

Kim Phượng