“Chiến lược công nghiệp và phát triển cụm liên kết ngành”

10:46:35 | 12/4/2013

Đây là chủ đề cuộc hội thảo do VCCI phối hợp với Quỹ Kinh tế Nhật Bản (JEF) tổ chức vừa qua tại HN. Mục đích hội thảo là nhằm giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có cái nhìn toàn diện, nắm được chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam tầm nhìn đến năm 2030 nói chung, chiến lược phát triển các ngành công nghiệp điện tử, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm cũng như phương hướng phát triển các cụm liên kết ngành nói riêng.

Phát biểu tại hội thảo, bà Phạm Thị Thu Hằng, Tổng Thư ký VCCI cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế toàn cầu, tuy nhiên, mô hình tăng trưởng và quá trình công nghiệp hóa đã bộc lộ một số điểm yếu như: tăng trưởng theo chiều rộng dựa vào lao động giá rẻ, thâm dụng vốn, năng suất lao động thấp, chủ yếu gia công, lắp ráp… có giá trị gia tăng thấp. Vì vậy, Việt Nam cần cải thiện năng lực cạnh tranh, xây dựng chiến lược công nghiệp, tập trung phát triển cụm liên kết ngành để đạt mục tiêu đề ra.

Bà Hằng cho biết, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản cùng với tuyên bố chung hai nước được ký kết là cơ hội để Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam xây dựng chiến lược công nghiệp hóa trong đó tập trung vào một số ngành hai bên cùng quan tâm và ưu tiên phát triển. Đây cũng là cầu nối để liên kết hai nước thu hút dòng vốn FDI. Năm 2012, Nhật Bản là nước có dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) vào Việt Nam lớn nhất cả số lượng dự án và vốn.

Theo Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, thành công của Đông Á, đặc biệt của Nhật Bản, trong sử dụng chính sách công nghiệp như là một công cụ quan trọng của chính phủ để phát triển công nghiệp cũng là kinh nghiệm thực tiễn tốt để Việt Nam tham khảo và học tập. Với việc ký kết Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, Nhật Bản sẽ tiếp tục là một đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam trong thời gian tới. Thực hiện nội dung của Bản Tuyên bố chung do lãnh đạo hai quốc gia ký kết trong tháng 11/2011 Việt Nam mong muốn Nhật Bản giúp đỡ xây dựng và thực hiện Chiến lược CNH, trong đó tập trung chọn ra một vài ngành cả hai bên đều quan tâm, để ưu tiên phát triển. Đây là động lực giúp Việt Nam có thể đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.

Bên cạnh đó, việc phát triển cụm liên kết ngành (CLKN) để phát triển kinh tế địa phương là một vấn đề đang được các địa phương quan tâm. Theo ông Nguyễn Trọng Hiệu, Phó Cục trưởng Cục phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, thực trạng của các cụm liên kết ngành của Việt Nam chủ yếu được hình thành và phát triển một cách tự nhiên với tính bền vững, năng động thấp, mối quan hệ lỏng lẻo, ít liên kết với các doanh nghiệp trong và ngoài cụm.

Cùng với đó, Việt Nam chưa có chiến lược, chính sách hữu hiệu hình thành và phát triển các cum liên kết ngành. Để sớm đưa Việt Nam nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo ông Hiệu, mỗi địa phương cần là một vùng kinh tế nhỏ, phát huy được lợi thế của mình. Góp phần thực hiện mục tiêu này, phát triển cụm liên kết ngành là một bước đi cần được Chính phủ và chính quyền mỗi địa phương quan tâm, chú trọng.

Theo ông Hiệu, mỗi CLKN được hình thành trên cơ sở một số công ty dẫn đầu trong thế mạnh của vùng. Ngoài ra còn cần một mạng lưới công ty cung ứng và một nền tảng cơ bản gồm: nguồn nhân lực, công nghệ tốt, khả năng tiếp cận vốn, môi trường kinh doanh tốt và cơ sở hạ tầng cơ bản. CLKN sẽ hỗ trợ chuyển đổi kinh tế địa phương, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa. Đối với doanh nghiệp, các CLKN sẽ giúp DN tăng khả năng cạnh tranh bằng việc tăng năng suất, khuyến khích các công ty mới cải tiến, tạo ra cơ hội cho các công ty kinh doanh.

Về giải pháp tổng thể, ông Hiệu đề nghị các cơ quan, ban ngành và địa phương cần nâng cao nhận thức về CLKN, xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất của địa phương gắn với định hướng chính sách phát triển CLKN. Bên cạnh đó, còn cần tăng cường liên kết, hỗ trợ nâng cao chuỗi giá trị, tăng cường hoạt động sáng tạo và đổi mới…

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương

Chiến lược CNH của Việt Nam được xây dựng nhằm thực hiện Tuyên bố chung giữa lãnh đạo hai nước vào cuối năm 2011. Việc xây dựng và thực hiện Chiến lược này là một hành động thiết thực để Nhật Bản tích cực đóng góp vào thúc đẩy quá trình CNH của Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng mong muốn đẩy mạnh thu hút FDI từ Nhật Bản vào một số ngành công nghiệp được lựa chọn đưa vào Chiến lược CNH để ưu tiên phát triển đến năm 2020.

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược CNH là: “Lựa chọn một vài ngành công nghiệp mà Việt Nam có tiềm năng và phía Nhật Bản quan tâm đầu tư nhằm ưu tiên phát triển thành các ngành chiến lược, có năng lực cạnh tranh và sức lan tỏa đối với các ngành công nghiệp khác, và thúc đẩy tăng trưởng năng suất của Việt Nam thông qua hỗ trợ của Nhật Bản dành cho Việt Nam; coi đây là một hình mẫu tiêu biểu cho quá trình hoạch định và thực thi chính sách công nghiệp trong thời gian tới”.

Trên cơ sở phân tích, hai bên đã thống nhất xác định 6 ngành công nghiệp đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đã chọn để ưu tiên tập trung phát triển nhằm hướng tới mục tiêu công nghiệp hóa vào năm 2020, bao gồm: (1) Điện gia dụng/Điện tử; (2) Chế biến thực phẩm; (3) Đóng tàu; (4) Máy nông nghiệp; (5) Môi trường và tiết kiệm năng lượng và (6) công nghiệp ô tô và sản xuất phụ tùng ô tô.

Các ngành lựa chọn trên đây đều là ngành Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển, có tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn vừa qua, có nhu cầu cao ở trong nước và có thể đóng góp lớn vào hoạt động xuất khẩu. Một số ngành Việt Nam còn nhiều tiềm năng phát triển như chế biến thực phẩm, máy nông nghiệp và đóng tàu, nhưng năng suất còn thấp và năng lực cạnh tranh yếu. Trong khi các ngành điện gia dụng/điện tử, ô tô tăng trưởng nhanh trong thời gian qua và đóng góp lớn vào xuất khẩu có lợi thế là thu hút nhà đầu tư Nhật Bản, nhưng chủ yếu tập trung ở khâu lắp ráp do thiếu công nghiệp hỗ trợ và nguyên liệu đầu vào. Ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng còn tương đối mới, trong khi nhu cầu đối với ngành này có xu hướng tăng lên cùng với quá trình công nghiệp hóa như xử lý rác thải công nghiệp, thiết bị bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng. Do đó, việc mở rộng các ngành này tới đây cần đi đôi với tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, cần sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua chính sách công nghiệp để khuyến khích phát triển.

Ông Shimomura, Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam

Chúng tôi luôn biết rằng các sản phẩm dòng trên như dầu, khí ga, sắt là rất cần thiết cho quá trình phát triển cao hơn. Hiện nay nhiều dự án về dầu, khí ga, sắt đã bắt đầu và chắc chắn sẽ thành công. Mối liên kết giữa các sản phẩm thuộc dòng trên và các ngành công nghiệp chiến lược là nhân tố chính để phát triển đến năm 2020. Đó chính là Chiến lược công nghiệp hóa mà chúng tôi đề xuất.

Tuy nhiên nếu chỉ có chiến lược thì không có tác dụng gì hết. Chúng ta cần hành động. Tôi hy vọng Chiến lược công nghiệp hóa sẽ giúp các cơ quan bộ liên quan xây dựng được “kế hoạch Hành động” cụ thể và “ Kế hoạch hành động” này sẽ khiến công cuộc công nghiệp hóa của Việt Nam mạnh mẽ như một đầu tàu.

Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải đã chỉ đạo: “Chiến lược công nghiệp hóa” nên hoàn thành vào tháng 3 năm nay và “Kế hoạch Hành động” hoàn thành vào quý 3 này. Chúng ta phải tăng tốc để thực hiện chỉ đạo này.

Quỳnh Anh