16:57:36 | 24/4/2013
Đây là chủ đề của “Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012” vừa được VCCI công bố tại Hà Nội. Báo cáo đã đưa ra một bức tranh về sự phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 10 năm 2002-2011, trong đó chỉ rõ quá trình chuyển dịch doanh nghiệp và thực trạng cải thiện năng lực doanh nghiệp, nhất là nhất là năng lực tiếp cận thị trường.
Phát biểu tại Lễ công bố, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI cho biết, tiếp theo các Báo cáo thường niên doanh nghiệp được xuất bản hàng năm bắt đầu từ năm 2006, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiếp tục xây dựng “Báo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2012”. Bằng việc lựa chọn chủ đề năm là “Chặng đường 10 năm phát triển và năng lực tiếp cận thị trường”, Báo cáo đã đưa ra một số kiến nghị chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh và gợi ý đối với doanh nghiệp trong việc tăng cường năng lực cạnh tranh. Báo cáo là công cụ quan trọng, một mặt giúp các cơ quan có thẩm quyền có cơ sở ban hành các chính sách nhằm cải thiện tốt hơn môi trường kinh doanh ở Việt Nam, mặt khác giúp doanh nghiệp xây dựng giải pháp kinh doanh phù hợp để vượt qua giai đoạn khó khăn hiện nay.

Tổng Thư ký VCCI, bà Phạm Thị Thu Hằng cho biết, theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, từ gần 63.000 doanh nghiệp (năm 2002) đã lên đến hơn 312.000 doanh nghiệp (tính đến ngày 1-4-2012). Số lượng lao động trong khu vực doanh nghiệp đã tăng gấp hơn 2,36 lần, từ 4,66 triệu lên 11 triệu lao động. Tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 30%/năm, đạt 15,3 triệu tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân đạt 27,4%/năm, đạt 10,7 triệu tỷ đồng vào năm 2011.
Tuy nhiên, theo bà Hằng, hiệu quả sử dụng lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn này không những không được cải thiện mà còn suy giảm, nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài do chất lượng lao động chưa tương xứng.
Về năng lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Việt Nam, Báo cáo đã lựa chọn 6 ngành để nghiên cứu, đó là: năng lực tiếp cận thị trường xuất khẩu của ngành thủy sản; năng lực tiếp cận thị trường nội địa của ngành cơ khí chế tạo; năng lực tiếp cận thị trường tiêu dùng nội địa của ngành sản xuất đồ uống; hoạt động bán lẻ trong việc hỗ trợ ngành đồ uống tiếp cận thị trường tiêu dùng nội địa; hoạt động quảng cáo khuyến mại trong hỗ trợ tiếp cận thị trường tiêu dùng nội địa; hoạt động xúc tiến thương mại trong việc hỗ trợ tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Theo phân tích của báo cáo, năng lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp Việt Nam vẫn thấp, thể hiện qua mức tăng đột biến của chỉ số tồn kho và cảm nhận của chính doanh nghiệp. Cụ thể, có tới 73% phản hồi cho rằng hàng tồn kho thực sự là mối lo ngại của doanh nghiệp; 5,7% trả lời phải ngừng hoạt động trong năm 2012 do không tìm được thị trường đầu ra, không vay được vốn và giá nguyên vật liệu cao… Khó khăn lớn nhất với doanh nghiệp trong năm 2012 không còn là vấn đề chi phí vốn mà là giải quyết hàng tồn kho.
Báo cáo đã đưa ra dự báo của ngành trong năm 2013 và các khuyến nghị đề xuất với các cơ quan quản lý Nhà nước. Theo đó, Nhà nước cần có ngay một cách tiếp cận phù hợp hơn khi đưa ra các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm thêm lãi suất cho vay; củng cố các gói bảo lãnh tín dụng với doanh nghiệp; đẩy mạnh thị trường xuất khẩu và xúc tiến thương mại nhằm giải tỏa hàng tồn kho…
Với cộng đồng doanh nghiệp, điều quan trọng nhất là thực hiện mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp; tập trung nâng cao năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường, bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra; xây dựng, rà soát và có cơ chế giám sát chặt chẽ hệ thống các định mức chi phí trong quá trình sản xuất - kinh doanh; tăng cường tính liên kết trong kinh doanh; xây dựng thương hiệu, tăng cường công tác xúc tiến phát triển, thiết lập các kênh phân phối hiệu quả; nâng cao ý thức tham gia vào các hiệp hội doanh nghiệp, cùng nhau kiểm soát thị trường… Ngoài ra, cần ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao năng suất lao động, cải thiện chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
|
Ông Deepak Mishra - Chuyên gia kinh tế trưởng, Ngân hàng Thế giới Những tháng đầu năm 2013, tình hình kinh tế toàn cầu đang được cải thiện dần. Thương mại quốc tế và các dòng vốn đang bắt đầu hồi phục, giá cả hàng hóa đã giảm, tình hình việc làm được cải thiện.Tuy nhiên, quá trình phục hồi của nền kinh tế thế giới có thể bị kéo dài.
Đối với Việt Nam, mặc dù có ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, song vẫn cần tập trung giải quyết các vấn đề nội tại, bởi đây là giai đoạn suy giảm tăng trưởng dài nhất kể từ sau thời kỳ Đổi mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong vòng 20 năm qua lên đến 7%, nhưng trong khoảng 5-6 năm nay, tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng dưới 7%. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần tăng tốc quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Theo đó, chương trình tái cơ cấu cần được chọn lọc, đồng bộ, chuẩn bị kỹ lưỡng; cần gấp rút đặt ra cơ chế giải quyết nợ xấu, tăng cường quản lý rủi ro và hệ thống quản trị doanh nghiệp, nâng cao năng lực giám sát của các nhà quản lý, và đưa ra một khuôn khổ pháp lý phù hợp. Bà Phạm Chi Lan, Chuyên gia kinh tế Để hỗ trợ các DNVN qua giai đoạn khó khăn, Nhà nước cần có một cách tiếp cận phù hợp hơn khi thiết kế các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là đối với DNNVV, các giải pháp kinh tế vĩ mô phải luôn đồng hành với việc nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích diễn biến thị trường trong nước và thế giới. Bên cạnh đó, Nhà nước cần khắc phục bất cập trong quản lý, ổn định thị trường vàng, tăng cường kiểm soát quy hoạch phát triển và vốn xây dựng cơ bản tại các địa phương, chấm dứt hiện tượng đầu tư dàn trải, chậm tiến độ hoàn thành dự án, xây dựng các quy hoạch vùng theo chuỗi cung ứng; Tiếp tục tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay, hạ lãi suất tín dụng phù hợp với mức giảm lạm phát. Đặc biệt, các cơ quan quản lý Nhà nước cần có chính sách phù hợp để giảm lãi suất cho vay về mức hợp lý, giảm chi phí cho vay cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV; củng cố hệ thống quỹ bảo lãnh tín dụng đồng thời đa dạng hóa các hình thức thế chấp, tín chấp để khu vực DNNVV dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn; Mở rộng thị trường đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu hàng tiêu dùng không thiết yếu, hàng xa xỉ. Đối với doanh nghiệp, giai đoạn này cần tiếp tục thực hiện mạnh mẽ quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, tập trung nâng cao năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra, Xây dựng, rà soát và có cơ chế giám sát chặt chẽ hệ thống các định mức chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, các DN cũng cần tăng cường tính liên kết trong kinh doanh, Tập trung vào năng lực cốt lõi là chiến lược quan trọng nhất, Xây dựng thương hiệu, tăng cường công tác xúc tiến phát triển… |
Quỳnh Anh
24 – 25/4/2026
Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh
6/3/2026 - 09/5/2026
Hà Nội
Từ ngày 29/4 đến 10/5/2026
Phoenix – Washington D.C. – New York (Hoa Kỳ)