Nhiều thách thức khi DNNVV vươn ra thị trường thế giới

16:05:31 | 6/12/2013

Việt Nam đã và đang tham gia đầy đủ tiến trình tự do hóa thương mại trong Hiệp định Thương mại tự do ASEAN và ASEAN mở rộng (ASEAN +) với các nước khu vực và trên thế giới. Tiến trình này cũng tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít khó khăn, thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là đến năm 2015 khi cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập với một thị trường rộng lớn khoảng 600 triệu người tiêu dùng và một cộng đồng doanh nghiệp với hàng chục triệu DNVVN...

Cơ hội nhiều, thách thức lớn

Tại Hội thảo "Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam và cơ hội của thị trường ASEAN với các hiệp định thương mại tự do" do Bộ Ngoại giao Anh, Viện Quốc tế về Phát triển bền vững (IISD), Hội đồng tư vấn kinh doanh ASEAN, VCCI và Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng- VP Bank phối hợp tổ chức vừa qua tại Hà Nội, TS Đoàn Duy Khương, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch Asean BAC Việt Nam cho rằng, các hiệp định tự do hóa thương mại trong khối ASEAN và ASEAN + tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế công bằng trong khu vực, tạo ra một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu. Nếu tận dụng tốt các cơ hội của các Hiệp định tự do thương mại này có thể mang lại lợi ích cho các nước ASEAN cũng như Việt Nam như thúc đẩy cải cách cơ chế, chính sách và môi trường kinh doanh, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, tạo ra nhiều việc làm hơn, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ hơn, phân bổ nguồn lực tốt hơn, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh.

Theo bà Trần Thị Thu Hương, Giám đốc Trung tâm xác nhận chứng từ thương mại VCCI, ASEAN là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 3 của Việt Nam, chỉ sau Hoa Kỳ và EU. Trong đó gạo và dầu thô là nhóm với trị giá chiếm xấp xỉ 30% tổng kim ngạch xuất khẩu của VN. Ở chiều ngược lại ASEAN là đối tác cung cấp nguồn hàng hóa lớn thứ 2 cho VN sau Trung Quốc với chủ yếu là máy móc thiết bị, dầu thô, phương tiện, dụng cụ, giấy, sắt thép… Số liệu thống kê cho thấy, kim ngạch nhập khẩu của toàn khối ASEAN (không tính Myanma) hàng năm khoảng 1.329 tỷ USD và xuất khẩu đạt 1.460,8 tỷ USD. Trong đó Việt Nam chiếm tỷ trọng 7,36% kim ngạch xuất khẩu, và 8,5% kim ngạch nhập khẩu.

Ông Khương cho biết, các hiệp định thương mại tự do cũng đặt ra rất nhiều thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, chịu áp lực cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài. Hiện nay, kinh tế Việt Nam đang vẫn còn rất nhiều khó khăn, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang phải nỗ lực để tồn tại và phát triển. Các hiệp định thương mại tự do gây sức ép nhiều nhất đến thương mại hàng hóa do mức độ cắt giảm thuế sâu rộng trong hiệp định ASEAN và ASEAN + 6: khoảng 90% các dòng thuế giảm xuống 0% vào năm 2015, phần lớn các dòng thuế sẽ đưa về 0% vào năm 2018. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu trong nước chưa tận dụng tối đa lợi thế giảm thuế theo các FTA.

Hơn nữa, ông Khương cho rằng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam thiếu thông tin về các cơ hội thị trường mà các hiệp định thương mại tự do mang lại cũng là trở ngại lớn đối với doanh nghiệp trong quá trình tận dụng những cơ hội này. Đặc biệt là các thông tin về ưu đãi thuế liên quan đến hàm lượng giá trị gia tăng nội địa của các hàng hóa và dịch vụ và các hàng rào kỹ thuật khác để có thể nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh trong quá trình phát triển hội nhập và bền vững.

DNNVV phải làm gì?

Bà Hương nhấn mạnh, thời gian còn lại không nhiều, các DNVN ngay từ bây giờ phải tự nỗ lực đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm… để khẳng định vị trí trên sân nhà và hơn thế nữa là tận dụng các cơ hội vươn ra thế giới.

Ông Hoàng Văn Phương, Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công thương đưa ra lời khuyên để các DNNVV VN tận dụng ưu đãi của các FTA đã ký: đó là nên tìm nguồn tham khảo hữu ích để nắm được cam kết, tra cứu thuế. Trong đó, nếu nắm bắt được các cam kết thì DN có thể hoạch định chiến lược phát triển trong tương lai, xác định cơ hội thị trường, tác động sẽ diễn ra trong tương lai để có giải pháp điều chỉnh. DNNVV cần tra cứu thuế để xác định chênh lệch thuế suất giữa ( thuế MFN với thuế ưu đãi; thuế ưu đãi giữa các FTA khác nhau để chọn mức thuế ưu đãi nhất để xin C/O phù hợp nếu đáp ứng được tiêu chí xuất xứ); để tham khảo, có thể sử dụng công cụ tra cứu thuế suất các trang web của các nước khi DN tham gia xuất khẩu.

Ông Phương cho biết thêm, hiện nay, VN đang tiếp tục đàm phán các Hiệp định TPP; Hiệp định Việt Nam-EU; Hiệp định Việt Nam-Khối EFTA; Hiệp định Việt Nam-Hàn Quốc; Hiệp định Việt Nam-Liên minh thuế quan Nga, Belarus, Kazakhstan; Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (ASEAN+6).

Các vấn đề mới nổi lên ở các FTA mà VN đang đàm phán là phạm vi tự do hóa rộng hơn, mức độ tự do hóa cao hơn, tiếp tục cắt giảm thuế nhập khẩu, cắt giảm thuế xuất khẩu, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ, thương mại điện tử, lao động, môi trường. Ngoài ra, vấn đề tăng cường thuận lợi hóa thương mại cũng được đưa ra bàn thảo, trong đó chú trọng đến quy tắc xuất xứ đơn giản hơn, áp dụng tự chứng nhận xuất xứ, tăng cường vận dụng hải quan điện tử.

Quỳnh Chi