Trà Vinh - Chủ động nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

10:05:12 | 8/1/2014

Với nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Trà Vinh nhằm phát huy sức mạnh đoàn kết, khai thác hiệu quả mọi tiềm năng thế mạnh cho phát triển kinh tế, những năm gần đây diện mạo đô thị Trà Vinh có những đổi thay đáng kể. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh – ông Đồng Văn Lâm chia sẻ: "Hướng về tương lai, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo bước đột phá từ công nghiệp - TTCN gắn với tăng trưởng thương mại - dịch vụ, hiện đại hóa nông thôn; tự tin vươn lên khẳng định vai trò vùng kinh tế năng động của khu vực ĐBSCL". Song Kiệt thực hiện.

Thưa ông, trong năm 2013, tình hình phát triển KT - XH, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như tốc độ tăng trưởng có đạt được như kế hoạch Trà Vinh đề ra không?

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh, KT - XH của tỉnh trong năm 2013 đạt được những kết quả tích cực; tăng trưởng GDP ước tăng 10,53% (theo giá cố định 1994), vượt kế hoạch đề ra (KH 10,5%). Trong đó, nông nghiệp tăng 1,02%; lâm nghiệp tăng 6,05%; thủy sản tăng 13,99%; công nghiệp tăng 3,73%; xây dựng tăng 11,27%; dịch vụ tăng 17,06%. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, tăng giá trị dịch vụ trong cơ cấu GDP; riêng tỷ trọng sản xuất công nghiệp - xây dựng do doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, ngưng hoạt động và hoạt động cầm chừng, cắt giảm đầu tư nên giá trị trong cơ cấu GDP không tăng giảm.

Ông Đồng văn Lâm (bên trái), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh trao quà cho nhà đầu tư Đài Loan

Văn hoá - xã hội có bước chuyển biến tích cực; tỷ lệ học sinh thi đỗ tốt nghiệp tăng, thi tuyển sinh đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp đạt khá cao. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân tiếp tục được tăng cường; các chính sách xã hội được quan tâm thực hiện tốt; an sinh xã hội được đảm bảo, số lao động thất nghiệp giảm, thu nhập bình quân đầu người tăng; an ninh quốc phòng được giữ vững, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

Để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2015 Trà Vinh thoát khỏi tỉnh chậm phát triển và đến năm 2020 trở thành tỉnh khá trong vùng ĐBSCL, tỉnh đưa ra các giải pháp mang tính đột phá nào?

Để đạt mục tiêu tổng quát thoát khỏi tình trạng tỉnh kém phát triển và đến năm 2020 trở thành tỉnh khá trong vùng ĐBSCL, bên cạnh việc bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra trong kế hoạch 5 năm 2011-2015, Quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH của tỉnh đến năm 2020, các Quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu; Trà Vinh cũng sẽ tập trung phát triển kết cấu hạ tầng, cải thiện môi trường kinh doanh thông qua việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách gắn với tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong ngành nông nghiệp, xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh, chuyên nuôi tập trung. Phát triển ngành công nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, tập trung kêu gọi thu hút mời gọi đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, cơ sở hạ tầng KKT Định An, KCN Cổ Chiên, Cầu Quan, Long Đức, các CCN - TCN. Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, chế độ ưu đãi, khuyến khích đầu tư phù hợp, mở rộng cơ hội thu hút đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư nước ngoài.

Đặc biệt tỉnh chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, cung ứng cho các ngành kinh tế chủ lực, các doanh nghiệp; tăng cường đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp, của xã hội, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm. Đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; duy trì, nâng cao chất lượng việc thực hiện cơ chế "một cửa", mở rộng cơ chế "một cửa liên thông". Đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính trong các lĩnh vực như đất đai, đầu tư, xây dựng.., tạo môi trường kinh doanh thông thoáng.

Để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến tới đạt mức thu nhập bình quân chung của cả nước, Trà Vinh cần có những biện pháp gì?

Để phát triển kinh tế nhanh, bền vững, rút ngắn khoảng cách phát triển, tiến tới đạt mức thu nhập bình quân chung của cả nước, tỉnh đã đề ra nhiều giải pháp, trong đó có 4 giải pháp đột phá đã nêu trên.

Ngoài ra là địa phương có đông đồng bào Khmer, tỉ lệ hộ nghèo cao, Trà Vinh còn đặc biệt quan tâm đến công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm. Tỉnh đã xây dựng và đang triển khai thực hiện Đề án giảm nghèo bền vững đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh; xây dựng cơ chế phối hợp rõ ràng, phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành trong công tác giảm nghèo.

Quan tâm đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào Khmer, xã đặc biệt khó khăn, xã bãi ngang ven biển. Khuyến khích người nghèo tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch KT - XH hàng năm của địa phương; hướng dẫn hộ nghèo xây dựng phương án/kế hoạch làm ăn cụ thể trong từng giai đoạn, từng năm để vừa có cơ sở hỗ trợ, vừa có căn cứ kiểm tra, đánh giá. Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở và giải quyết việc làm cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn theo Quyết định 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ và các chính sách của địa phương.

Ngoài ra tỉnh còn tăng cường hỗ trợ khoa học - kỹ thuật, khuyến công - nông - ngư để người nghèo áp dụng sản xuất, kinh doanh có hiệu quả. Thành lập quỹ khuyến khích thoát nghèo để điều phối nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho công tác giảm nghèo. Đa dạng nguồn vốn tín dụng cho người nghèo, chú trọng tới khả năng tiếp cận và sử dụng vốn của hộ vay; có cơ chế giám sát đánh giá, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả. Đồng thời tập trung triển khai thực hiện tốt Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Trà Vinh đến năm 2020, bảo đảm theo nhu cầu của người học và đáp ứng với yêu cầu việc làm của địa phương và các cơ sở kinh tế có nhu cầu sử dụng lao động. Phát triển sàn giao dịch việc làm điện tử tại tỉnh; tổ chức các phiên giao dịch, việc làm tại các huyện, xã, chú trọng mời các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động tham gia; tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề gắn với việc làm ở các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Xin ông chia sẻ thêm về định hướng phát triển của Trà Vinh trong thời gian tới, hướng đến việc khẳng định vị trí và vai trò quan trọng trong vùng kinh tế ĐBSCL?

Để khai thác hiệu quả mọi tiềm năng thế mạnh, hướng tới khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong vùng kinh tế ĐBSCL, Trà Vinh tập trung nguồn lực đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực trong các ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh nhằm tạo nền tảng cho phát triển KT - XH bền vững gồm phát triển KKT Định An, kinh tế biển, sản xuất lúa gạo, công nghiệp chế biến...Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, cân đối, bền vững theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao. Khai thác lợi thế về nguồn lao động, điều kiện đất đai và nguồn nguyên liệu nông, thủy sản cho chế biến kết hợp với đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, đổi mới cơ chế chính sách, mở rộng hợp tác, xúc tiến đầu tư để phát triển công nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh bền vững cho sản phẩm công nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Đẩy mạnh thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài để phát triển công nghiệp.

Tỉnh cũng quan tâm đầu tư phát triển nhanh, hiệu quả KKT ven biển Định An, KCN Long Đức, KCN Cổ Chiên, KCN Cầu Quan và các CCN theo quy hoạch đã được phê duyệt gắn liền với bảo vệ môi trường; đồng thời phát triển đồng bộ các dịch vụ, khu đô thị mới, phát triển công nghiệp gắn với nông nghiệp, nông thôn.

Ngoài ra để phát triển lĩnh vực thương mại, Trà Vinh đẩy mạnh hợp tác, xúc tiến thương mại mở rộng thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu; khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ; chú trọng xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, hàng hoá đến các thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời thực hiện đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; chuyển đổi dần cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng tăng tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu chế biến sâu, có hàm lượng giá trị gia tăng và kỹ thuật cao.