Chuyển đổi mô hình hoạt động các DNNN: Lại không đúng kế hoạch

09:15:50 | 5/7/2010

Theo Nghị định 25/2010, ngày 1/7/2010 là thời hạn cuối cùng để các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) chưa kịp CPH sẽ phải chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước, hoạt động theo Luật doanh ngiệp (DN)…

Tuy nhiên, tại diễn đàn “Những vấn đề đối với DNNN trước và sau chuyển đổi” do Báo Diễn đàn DN - VCCI, Câu lạc bộ DNNN (VN SOEs Club), Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức vừa qua tại Hà Nội, hầu hết các đại biểu đều có chung nhận định: việc chuyển đổi này đã không thể về đích như kế hoạch đề ra.

Cái khó là chuyển đổi về chất

TS Lê Xuân Bá, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết, thời hạn chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước (1/7/2010) theo Luật Doanh nghiệp đã đến nhưng vẫn còn khoảng 1.000 DNNN “lỗi hẹn” với Luật Doanh nghiệp.

Theo TS Vũ Đình Ánh, Viện Nghiên cứu thị trường giá cả, việc chuyển đổi các DNNN tại Việt Nam thực tế đã được khởi động từ đầu những năm 90, nhưng nay vẫn chưa kết thúc mà vẫn đang trong quá trình vận động đổi mới cả tư duy và phương thức tiến hành. “Vướng mắc lớn nhất vẫn là việc định giá tài sản và việc xác định chủ sở hữu chưa rõ ràng”, ông Ánh nói.

Cùng chung nhận định trên, TS Trần Tiến Cường, Trưởng Ban Cải cách và Phát triển doanh nghiệp, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho biết, vấn đề lớn nhất hiện nay là các tập đoàn, công ty lớn đang vướng mắc đều liên quan đến đất đai, tài sản trên đất… không dễ gì chuyển đổi được. Việc xác định thành viên của doanh nghiệp cũng còn bàn cãi. Lâu nay các DNNN hoạt động chẳng khác nào các UBND dù có ông chủ tịch đó nhưng chỉ là danh nghĩa, còn trách nhiệm vẫn cứ chạy lòng vòng.

Thực tế cho thấy, kể từ khi bắt đầu tiến trình cổ phần hóa, Việt Nam đã tiến hành rất chậm và gần như dậm chân tại chỗ. Từ năm 1992 đến 1996, Việt Nam chỉ thực hiện thí điểm cổ phần hóa được 5 DNNN, sau đó CPH thêm 25 DNNN nữa. Tốc độ cổ phần hóa bắt đầu tăng nhanh từ giữa năm 1998 đến năm 2000, sau đó chậm lại đến tận năm 2002. Giai đoạn 2002-2005, Việt Nam mới tăng tốc thực hiện cổ phần hóa và đã chuyển đổi được hơn 1.700 doanh nghiệp. Đến giữa năm 2006, Việt Nam đã sắp xếp được 4.760 DNNN. Sau đó, nhiều rào cản xuất hiện làm chậm quá trình chuyển đổi nên Chính phủ đưa ra mốc thời gian về đích vào 1/7/2010.

Theo đánh giá của PGS, TS Nguyễn Đình Tài, Phó Chủ nhiệm thường trực Câu lạc bộ DNNN, nếu chỉ để chuyển đổi để cho kịp tiến độ ngày 1/7 thì không khó, quan trọng là chuyển đổi về “chất”, thay đổi cách quản trị doanh nghiệp, tư duy, cách thức làm việc đã ăn sâu bao nhiêu năm nay. Các DNNN quen làm theo cơ chế hành chính, cơ quan bộ, ngành quản lý, quen xin ý kiến cấp trên. Cấp trên giỏi thì chỉ đạo trực tiếp tốt, còn cấp trên không rành về kinh doanh thì họ cũng đùn đẩy chuyển sang nơi khác…

Vẫn còn nhiều vướng mắc

Theo bà Nguyễn Kim Toàn, Vụ trưởng Vụ đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, Văn phòng Chính phủ cho biết, vướng mắc trước tiên có thể thấy là hiện Việt Nam vẫn chưa có hướng dẫn thống nhất trong đăng ký kinh doanh đối với các doanh nghiệp được chuyển đổi, tên DN, đánh giá giá trị đất đai... Ngoài ra, một đầu mối để xác định trách nhiệm sau khi chuyển đổi cũng chưa có…

Nhiều chuyên gia cho rằng, khuôn khổ pháp lý cho việc thành lập DNNN sau thời điểm chuyển đổi cần phải xem xét kỹ hơn do sự thiếu hụt hoặc không sửa đổi, bổ sung kịp thời khung pháp lý sẽ để lại khoảng trống cho hoạt động của DN, cho quản lý vốn của nhà nước. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ vừa không đủ khung pháp lý cho hoạt động của DN; vừa không bảo vệ được quyền lợi của chủ sở hữu nhà nước.

Bà Toàn cho biết thêm, trong tháng 7/2010, nhiệm vụ chính của các DN và các cơ quan quản lý là phải có trách nhiệm ban hành được điều lệ để làm sao cho DN thực sự thực hiện theo Luật doanh nghiệp. Hiện nay, các DN đang tiến hành làm đăng ký kinh doanh mới. Đây mới chỉ là bước đầu và còn rất nhiều việc phải làm để quá trình chuyển đổi các DNNN được thành công và hiệu quả.

Vietnam Business Forum trân trọng giới thiệu một số ý kiến của các chuyên gia về vấn đề này:

Khó định hình cơ cấu quản trị DNNN

GS TS Nguyễn Đình Tài, Giám đốc Trung tâm tư vấn và quản lý đào tạo, Phó Chủ tịch Câu Lạc bộ DNNN.

Xét trên góc độ quản trị DNNN, các DNVN về cơ bản vẫn chưa xác định được chủ sở hữu nhà nước một cách rõ ràng, dẫn tới khó định hình cơ cấu quản trị DNNN hiệu quả. Điều này làm mất phương hướng và mục tiêu của quản trị DNNN. Tiếp đến là thực trạng, Nhà nước chưa là chủ sở hữu chuyên nghiệp và chưa đảm bảo nguyên tắc thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước quy định. Bên cạnh đó, việc thực thi các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước tại DNNN thông qua hệ thống người đại diện đang phát sinh nhiều bất cập.

Đối với Tổng Công ty Nhà nước và các tập đoàn Kinh tế nhà nước, hầu hết vẫn đang lúng túng trong nhận thức và cách giải quyết vấn đề liên kết giữa các doanh nghiệp trong tập đoàn. Ví dụ như cách thức liên kết, cơ sở và căn cứ liên kết, mô hình công ty mẹ- công ty con trong liên kết tập đoàn, tổ chức thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với tập đoàn... Theo quy định hiện hành chưa đề cập việc đầu tư giữa các DN thành viên với nhau, kể cả trường hợp công ty con cùng đầu tư vào một công ty khác... Đây là những vấn đề bị đánh giá thiếu minh bạch, làm tăng rủi ro tài chính cũng như rủi ro của các nhà đầu tư, các chủ nợ có liên quan.

Lực cản sẽ nhiều hơn?

Luật gia Vũ Xuân Tiền, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH tư vấn VFAM Việt Nam

Việc CPH các DNNN đã triển khai từ năm 1993 đến nay và chưa năm nào Việt Nam hoàn thành kế hoạch theo “lộ trình do Thủ tướng CHính phủ quy định”. Cần phải khẳng định rằng, mục tiêu trong cải cách các DNNN khôngphải là tạo ra những chiếc “bình mới” mà bên trong vẫn là “rượu cũ”.

Vì vậy, Việt Nam cần phải được giải quyết ngay những vấn đề về nhận thức, tư tưởng, cần làm rõ khái niệm về “ tư nhân hoá”. CPH DN là một trong những phương thức để chuyển đổi hình thức sở hữu tư nhân, ở hầu hết các nước phát triển, khu vực kinh tế tư nhân đã và đang giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, vì vậy, không thể và không nên “dị ứng” với cum từ “ tư nhân hoá”.

Ngoài ra, cần nghien cứu, tổng kết đánh giá những nguyên nhân cơ bản làm chậm tiến trình CPH DNNN trong thời gian trước đây. Trên cơ sở đó, đề xuất những biện pháp tháo gỡ những nút thắt đối với chương trình quốc gia đặc biệt quan trọng này. Tuy nhiên, các chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến việc CPH DNNN trước đây và các công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu lại liên quan đến rất nhiều Bộ, ngành. Chẳng hạn, việc xác định giá trị đất -thuộc Bộ tài nguyên và Môi trường; chính sách đối với người lao động - Bộ Lao động thương binh và Xã hội; chính sách về tín dụng -thuộcc NHNN Việt Nam … Do đó, rất cần một “nhạc trưởng” phối hợp hành động và giám sát kết quả trong công tác này.

Đặc biệt, cần Ban hành mới hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật vè CPH, chuyển đổi hình thức sở hữu đối với các công ty TNHH một thành viên hình thành sau chuyển đổi, bởi lẽ, những văn bản trước đấy, về nguyên tắc đã hết hiệu lực thi hành.

Mặc dù có “mốc giới” là 1/7/2010 nhưng việc chuyển đổi hình thức sở hữu của các DNNN vẫn không đạt yâu cầu. Vì vậy, sau khi đã trở thành công ty TNHH một thành viên và về hình thức là đã thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật DN thì lực cản trong việc chuyển đổi sẽ nhiều hơn.Nếu không chỉ đạo quyết liệt, việc CPH các côngt y TNHH một thành viên sẽ không thể về đích đúng hạn.

Hải Hằng