09:04:31 | 10/9/2010
Trung Quốc đại lục, hiện là một trong những nền kinh tế phát triển hàng đầu thế giới, tuy nhiên việc thu hút dòng vốn FDI của nước này vào Việt Nam còn khá khiêm tốn so với tiềm năng, thế mạnh và mối bang giao sâu đậm của hai nước.

Chưa phải nhà đầu tư lớn
Theo ông Nguyễn Thế Phương, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 6 – 2010, đầu tư FDI của Trung Quốc vào Việt Nam mới dừng lại ở 2,92 tỷ USD.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, hiện có 2.000 doanh nghiệp Trung Quốc đang đầu tư trực tiếp (FDI) tại Việt Nam. Con số các doanh nghiệp Trung Quốc có mặt ở Việt Nam là khá lớn so với các quốc gia khác. Tuy nhiên, hiện Trung Quốc vẫn chỉ đứng thứ 15 trong tổng số 91 nhà đầu tư tại Việt Nam.
Một loạt các dự án đầu tư lớn Trung Quốc đã và đang được triển khai ở Việt Nam như: Dự án lớn nhất là nhà máy sản xuất phôi thép của Công ty TNHH Fuco đặt tại khu công nghiệp Phú Mỹ II (Bà Rịa - Vũng Tàu) với vốn đăng ký 180 triệu đô la Mỹ. Một vài dự án khác có vốn đăng ký trên 100 triệu đô la thuộc về các lĩnh vực kinh doanh khách sạn, khu công nghiệp, khu chế xuất tại Tp. Hồ Chí Minh, Hải Phòng và Lào Cai. Tuy nhiên, nhìn tổng thể so sánh lợi thế một số chỉ tiêu như mối quan hệ hiểu biết sâu sắc, sự gần gũi về địa lý giữa nhà nước, kim ngạch thương mại hai chiều, khối lượng tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài thì Trung Quốc chưa phải nhà đầu tư lớn tại Việt Nam. Ngoài ra, mặc dù Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) có hiệu lực đã tạo thêm thuận lợi về thuế quan cho hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam nhưng dường như những điều kiện khách quan trên vẫn chưa cải thiện được mấy tình hình thu hút đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu Trung Quốc tại Việt Nam lý giải, thực tế không hẳn như vậy, hiện tại các đặc khu kinh tế phát triển nhanh của Trung Quốc như Thẩm Quyến, Sán Đầu, Hạ Môn, Chủ Hải... đang có nhu cầu di chuyển công nghệ ra các quốc gia khác để tiếp nhận công nghệ cao hơn. Và Việt Nam hay các nước ASEAN đang là những đối tác đầy tiềm năng để Trung Quốc thực hiện mục tiêu này bởi các thuận lợi như khoảng cách gần nhau về địa lý, hòa hợp về văn hóa.
Một câu hỏi luôn được đặt ra là các doanh nghiệp Trung Quốc rất năng động và nhạy bén, quy mô nền kinh tế Trung Quốc hiện đang trong giai đoạn phát triển nhanh và thịnh vượng hiện đang có nhu cầu mở rộng sang ra thị trường nước ngoài. Vậy với Việt Nam một quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng về văn hóa lại đang là đối tác nhập khẩu hàng hóa lớn thì tại sao hiện Trung Quốc vẫn chưa nằm trong “top” những nhà đầu tư lớn ở Việt Nam? Theo lý giải của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, sở dĩ việc đầu tư FDI không tăng là do nước này đang tập trung vào chiến lược làm nhà thầu nước ngoài lớn ở Việt Nam. Đường lối phát triển kinh tế của Trung Quốc cũng chỉ rõ có bốn nội dung phát triển kinh tế đối ngoại gồm: thương mại - đầu tư - viện trợ ODA và thầu khoán công trình. Khi doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu ở nước ngoài, họ đồng thời mang theo gói thầu máy móc, thiết bị cho dự án và nhân công. Phần xuất khẩu thiết bị và lao động đã chia sẻ những lợi ích về giá thầu cho các dự án. Do vậy, các nhà thầu Trung Quốc thường trúng thầu với giá rẻ hơn nhiều lần so với các nhà thầu đến từ nhiều quốc gia khác. “Trung Quốc hiện là đối tác thương mại của 220 quốc gia, là thầu khoán công trình ở 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, viện trợ ODA đến 90 nước và đầu tư FDI ở 129 nước. Cả bốn nội dung hợp tác kinh tế này đều có ở Việt Nam”, PGS.TS. Đỗ Tiến Sâm, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc cho biết. Ông Sâm cho biết thêm, việc Trung Quốc là nhà thầu nước ngoài lớn nhất ở Việt Nam cũng nằm trong mục tiêu lớn của chính phủ nước này: thầu khoán công trình (tổng thầu EPC) lấy châu Á là chính, rồi mở rộng sang châu Phi... Theo đó, hiện Trung Quốc đang có nhiều dự án lớn ở Việt Nam như: Dự án Nhiệt điện Hải Phòng, dự án xây dựng nhà máy khai thác và tuyển luyện đồng Sinh Quyền (Lào Cai), dự án nhà máy sản xuất alumin Nhân Cơ, Tân Rai thuộc dự án tổ hợp bauxite nhôm ở Đắc Nông và Lâm Đồng...
Ngoài ra, còn có một số lý do khách quan khác như nhiều doanh nghiệp Trung Quốc chưa hiểu biết đầy đủ về môi trường đầu tư Việt Nam; hệ thống pháp luật của Việt Nam còn nhiều lỗ hổng và hay thay đổi khiến cá DN Trung Quốc chưa thật an tâm. Một số doanh nghiệp còn cho biết, họ đang hướng đến môi trường đầu tư ở Campuchia và Lào hơn là đến Việt Nam vì hàng hóa của Việt Nam không được miễn thuế hoàn toàn và bị hạn ngạch xuất khẩu một số mặt hàng khi xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ.
Trong một tầm nhìn chiến lược, Việt Nam cần có những tính toán bài bản để gỡ bỏ những rào cản thương mại, thu hút hơn nữa tiềm lực đầu tư từ Trung Quốc. Song song với đó là cải thiện hệ thống văn bản pháp luật, chính sách đầu tư theo hướng linh hoạt, thông thoáng thuận lợi hơn.