10:45:39 | 28/3/2011
“Động đất chỉ ảnh hưởng “tạm thời” lên tăng trưởng của Nhật Bản và "có tác động không đáng kể” lên sự phục hồi kinh tế mạnh của khu vực” và Việt Nam đang có những bước triển khai hợp lý để làm dịu nền kinh tế quá nóng, Báo cáo Cập nhật tình hình kinh tế Đông Á và Thái Bình Dương với tiêu đề “Ổn định hiện tại, Định hình tương lai”của Ngân hàng thế giới đã cho biết như vậy trong công bố mới đây.
Việt Nam: Làm dịu nền kinh tế quá nóng
Theo báo cáo này, kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi nhanh chóng từ cuộc khủng hoảng toàn cầu. Năm 2010, tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là 6,8% và đây là mức độ tăng nhanh nhất trong 3 năm gần đây. Sự hồi phục nhanh chóng này xuất phát từ nhu cầu trong nước mạnh, đầu tư nước ngoài cao hơn và sự hồi sinh mạnh mẽ của xuất khẩu. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục duy trì xu hướng tăng và kiều hối có tốc độ tăng trưởng khả quan. Cán cân thương mại được cải thiện và kiều hối tư nhân với khối lượng lớn đã đã giúp giảm thâm hụt tài khoản vãng lai từ 8% năm 2009 xuống khoảng 4% trong năm 2010. Dòng vốn FDI mạnh, việc giải ngân nhanh dòng vốn ODA và đầu tư gián tiếp cũng đã giúp nguồn vốn nhà nước đảm bảo khoản thặng dư khoảng 12% GDP trong năm 2010
Việt Nam tốn kém nhiều khi quyết định ngừng triển khai gói kích thích tiền tệ và tài chính muộn hơn mặc dù đã có sự phục hồi mạnh mẽ. Đến quý ba năm 2010, lạm phát bắt đầu tăng nhanh, chênh lệch tỷ giá tại thị trường đen và thị trường chính thức bị nới rộng. Giá cả tiếp tục leo thang xuyên suốt quý 4 của năm 2010 do nhu cầu trong nước tăng mạnh vào dịp cuối năm cùng với tác động của việc tăng giá cả toàn cầu và các khó khăn về nguồn cung lương thực phẩm trong nước do dịch bệnh và thời tiết. Thiện cảm của thị trường vốn quốc tế đối với Việt Nam suy giảm đặc biệt sau khi Vinashin không trả được khoản thanh toán đầu tiên trị giá 60 triệu USD trong một khoản vay hợp vốn trị giá 600 triệu USD.
Báo cáo cũng cho biết, đến Tết âm lịch 2011, lạm phát đã leo lên đến mức 12,2%, cao nhất trong hai năm gần đây và và tiền đồng chịu áp lực rất cao với chênh lệch trao đổi tại thị trường đen và thị trường chính thống trên 10%. Mặc dù đã có cải thiện trong thâm hụt tài khoản vãng lai và tiếp tục thặng dư lớn trong tài khoản vốn, lượng dự trữ ngoại hối trong năm 2010 giảm đi. Phần lớn thặng dư trong cán cân thanh toán đều nằm ngoài hệ thống ngân hàng dưới dạng lỗi và sai số, mà trong hai năm liên tiếp, số thặng dư này vượt quá 10 tỷ USD. Vấn đề kinh tế vĩ mô qua một thời gian đã làm giảm lòng tin, với việc một bộ phận hộ gia đình và doanh nghiệp Việt Nam chuyển tiền của mình sang đô la Mỹ và vàng vì lo lạm phát tăng cao và sự không rõ ràng trong các chính sách. Theo WB, đã đến lúc Chính phủ phải có những hành động và giải pháp quyết liệt, nếu không sẽ không đáp ứng được kì vọng của các nhà đầu tư trong nước.
Đến đầu tháng hai 2011, Chính phủ nhất trí đưa ra các biện pháp mạnh để khôi phục lại ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ công khai đưa ra ý định theo đuổi "chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ và thận trọng", thể hiện qua việc ban hành Nghị quyết 11, bao gồm một loạt các cải cách tiền tệ, tài chính và cơ cấu nhằm làm dịu nền kinh tế quá nóng.
WB đánh giá, việc công bố các chính sách ổn định kinh tế gần đây là một bước quan trọng đúng hướng để phá vỡ chu kỳ phát triển nóng rồi lại tăng trưởng chậm này, và để khôi phục lại hình ảnh của một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của đầu tư nước ngoài trong khu vực. Các thị trường tài chính quốc tế cũng đã phản ứng thuận lợi trước những biện pháp này, cụ thể là mức rủi ro của trái phiếu ngoại tệ do Chính phủ Việt Nam phát hành đã có cải thiện đôi chút. Điều này cũng dự báo tốt cho thành công của các biện pháp này.
“Với điều chỉnh ngân sách 2011 và Nghị quyết gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quyết tâm tiếp tục củng cố các tài khoản tài chính và dần dần giảm bớt thâm hụt ngân sách đến mức trước khủng hoảng. Nợ công của Việt Nam có thể vẫn bền vững nếu duy trì được đà phục hồi kinh tế hiện nay và Chính phủ có một lộ trình giảm thâm hụt tài chính. Trong khi các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô sẽ làm chậm tăng trưởng trong ngắn hạn, nếu thực hiện thành công, các biện pháp này sẽ giúp Việt Nam đạt được tiềm năng tăng trưởng trước khủng hoảng của mình trong trung hạn”, báo cáo của WB đánh giá.
Đông Á-Thái Bình Dương: những khó khăn do động đất Nhật Bản chỉ mang tính tạm thời
Theo đánh giá của WB, tăng trưởng GDP thực của Nhật Bản sẽ chậm lại sau trận động đất và sóng thần, nhưng chỉ mang tính tạm thời, và Nhật Bản sẽ bắt đầu tăng trưởng trở lại vào giữa năm 2011 khi triển khai các nỗ lực tái thiết. Mặc dù vẫn còn quá sớm để có thể đánh giá một cách đầy đủ, nhưng lịch sử Nhật Bản cho thấy đất nước này sẽ triển khai hoạt động tái thiết một cách nhanh chóng, và tác động ngắn hạn của sự kiện này lên các nền kinh tế đang phát triển ở Đông Á sẽ có thể ở mức độ không đáng kể.
Ông Vikram Nehru, Chuyên gia kinh tế trưởng của NHTG khu vực Đông Á và Thái Bình Dương nói: “Rõ ràng, với vai trò quan trọng của Nhật Bản tại khu vực Đông Á, các thảm họa tại nước này chắc chắn sẽ tác động đến khu vực. Nhưng hiện tại còn quá sớm để đánh giá chính xác các thiệt hại. Tại thời điểm này, tác động kinh tế của thảm họa lên khu vực Đông Á chỉ mang tính ngắn hạn. Trong tương lai gần, lĩnh vực bị ảnh hưởng lớn nhất là thương mại và tài chính. WB cho rằng Nhật Bản sẽ khôi phục lại đà tăng trưởng khi các nỗ lực tái thiết của họ bắt đầu”.
Nhìn lại năm 2010, Báo cáo đánh giá việc tăng sản lượng của khu vực là cao một cách đáng ngạc nhiên với tăng trưởng GDP thực lên đến 9,6%. Tăng trưởng cũng trải rộng: có tới 6 nước trong khu vực Đông Á tăng trưởng ít nhất 7% trong năm 2010. Kết quả này có được nhờ vào các gói kích thích tài chính và tiền tệ của nhiều quốc gia trong khu vực cộng thêm nhu cầu từ các khu vực khác tăng cao. Tăng trưởng GDP thực của khu vực được dự đoán ổn định ở mức khoảng 8% trong năm 2011 và 2012.
Tuy nhiên, WB cũng thừa nhận, cũng khá khó để tính chính xác tăng trưởng năm 2011 khi việc chống lại lạm phát đang là ưu tiên ngắn hạn. Các lựa chọn chính sách giảm lạm phát luôn là khó khăn đối với các nước thu nhập trung bình Đông Á, nơi việc áp dụng chính sách tiền tệ luôn luôn phức tạp vì dòng chảy vốn đầu tư vào khu vực lên cao cũng như giá cả hàng tiêu dùng và thực phẩm tăng chóng mặt. Gánh nặng của các chính sách điều chỉnh sẽ rơi vào chính sách tài khóa, thách thức đặt ra là giảm thâm hụt nhanh nhưng đồng thời phải tạo đủ nguồn tài chính cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng tối cần thiết, các dự án xã hội và trợ giúp tiền mặt cho người nghèo.
Với xu hướng trọng tâm kinh tế thế giới dần chuyển dịch về Đông Á, khu vực này cũng cần chuẩn bị gánh vác những trách nhiệm mới, đóng góp nhiều hơn cho hàng hóa công toàn cầu. Ông Vikram Nehru nhấn mạnh: “Đông Á có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh nếu chính quyền các quốc gia sẵn sàng đưa ra những quyết định cứng rắn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô trong môi trường kinh tế toàn cầu không ổn định. Đồng thời, khu vực này cần phải giải quyết các thách thức trung hạn như đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực, thu hẹp bất bình đẳng xã hội, kinh tế và giảm khí thải carbon trong sản xuất và tiêu dùng”.
Mai Anh